5 PHÚT THÓI QUEN CỦA STEPHEN R.COVEY

By Trần Chiểu

 

5 PHÚT THÓI QUEN CỦA STEPHEN R.COVEY

Bùi Quang Minh

5 phút giới thiệu thói quen thứ 1  

Người thành đạt có thói quen là người duy nhất kiểm soát tương lai của mình qua: phản ứng tự chủ và quản lý sự thay đổi. Họ nhận thức được trách nhiệm giữ cam kết về công việc mình làm tập trung vào mở rộng vô hạn các nguồn lực và ra tăng ảnh hưởng tích cực lên công việc cuộc sống...

 

 5 phút giới thiệu thói quen thứ 2 

Thói quen để định hướng cá nhân: chú trọng xác định tầm nhìn giá trị và sáng tạo nhiệm vụ/mục tiêu của cá nhân từ đó đo lường và sắp xếp độ quan trọng của mục tiêu.

Nhờ thói quen 2 bạn sẽ hiểu rõ hơn mục đích và việc bạn làm trong công việc và cuộc sống...Người thành đạt có thói quen là người duy nhất kiểm soát tương lai của mình qua: phản ứng tự chủ và quản lý sự thay đổi. Họ nhận thức được trách nhiệm giữ cam kết về công việc mình làm tập trung vào mở rộng vô hạn các nguồn lực và ra tăng ảnh hưởng tích cực lên công việc cuộc sống...

 

5 phút giới thiệu thói quen thứ 3    

Thói quen 3: Việc quan trọng làm trước. Thói quen của sự thống nhất và thực thi chiến lược. Bạn cần tập trung vào việc quan trọng chứ không phải là cách thức hay kết quả sẽ đạt được; Cân bằng các ưu tiên và loại bỏ lãng phí thời gian...

CHUNGTA.COM

 

 

 

 

 

More...

XÓT TIỀN DÂN

By Trần Chiểu

  

XÓT TIỀN DÂN

 

 

Truyện ngắn Azit Nêxin
08:11 AM - Chủ nhật 26/12/2010

 

 

Cái lão Azit Nêxin thật đáng ghét. Câu chuyện của lão sinh ra cả mấy chục năm trời mà ở tít tận nước Thổ Nhĩ Kỳ chứ gần gũi gì đâu. Thế mà vẫn khiến khối người Việt Nam ta giật mình thon thót. Đã thế lần này người Việt mình đọc lại sản phẩm của lão một lần nữa để thấy rằng lão còn lâu mới đúng tâm can của các nhà thầu Việt. Họ cao tay hơn rất nhiều lão nhá!

- Khách sạn gì mà xây lâu đến thế kia chứ?

- Chứ gì ngần ấy thời gian thì xây được cả thành phố chứ đâu chỉ là một khách sạn.

- Sao lâu thế nhỉ? Hay là ta chọn nhầm cánh thầu khoán.

- Khách sạn này cũng có mấy nhà thầu nước ngoài xin việc không hiểu sao các ông ấy lại ưng nhà này cũng chẳng phải nhà ấy đòi ít cũng chẳng phải họ làm tốt các hợp đồng khác cũng chẳng phải vì họ chiều mình. Sự thể ra sao tôi phải quan sát đã rồi mới dám nói.

Hóa ra là quan cũng nhiều mà cung cách cũng lắm: nào mở tiệc ăn mừng nào cắt băng khởi công nào quan lớn tự đặt viên gạch đầu lấy may. Rồi chiêu đãi dưới trên ăn một miếng nhớ đời rồi báo chí rùm beng bài to ảnh nhớn.

Ít lâu sau hàng rào khách sạn tương lai mọc lên.

Một hôm có ba chiếc xe con đỗ cạnh công trường. Nào phải ai xa lạ chính là vị quan chức nhà nước bước xuống xem bề thế công trường.

- Sao hành lang hẹp thế nhỉ? Ngài trưởng nhóm hỏi.

- Bẩm quan cái đồ án thiết kế nó vậy. - Người kỹ sư đáp - hành lang rộng đến năm mét... Chắc ông cho rằng chúng tôi không thấy cái khách sạn nào bao giờ hẳn? Tôi đã ở các ôten ngoại quốc hành lang của họ còn rộng hơn nữa. Thôi được cứ cho rằng hành lang theo thiết kế đi nhưng số lượng hành lang ít quá... Khách sạn mà có mấy cái hành lang như thế. Không làm được thì thôi đã làm thì làm cho ra làm. Tiền dân tiền nước phải biết xót chứ... Ông kỹ sư ngậm tăm.

- Còn các ngài nghĩ thế nào? Khách sạn lớn mà có mấy cái hành lang như thế chẳng phải là ít hay sao? Quan lớn hỏi bầy tuỳ tùng.

- Hơi ít thưa ngài.

- Dạ bẩm ít ạ.

- Ít quá chứ ạ...

Và thế là hợp đồng với nhà thầu ấy bị hủy. Trong lúc chờ giám định phân xử bản thiết kế được thay đổi: hành lang nhiều hơn rộng hơn.

Việc thi công đồ án mới đang được triển khai thì một ngày kia lại có mấy chiếc xe con dừng bánh bên đường. Lại có mấy ngài đương chức đến nom việc. Đi đầu là một ngài bệ vệ nhất. Vừa thấy cái lỗ cửa ra vào ngài hỏi liền:

- Chỗ này làm gì đây?

- Dạ phòng khách đấy ạ đại diện nhà thầu mới đáp

- Phòng khách? Phòng khách quái gì mà thế này?

- Dạ bẩm việc chưa xong mai kia chúng con lát đá sơn tường kẻ hoa...

- Hiểu rồi tức nghĩa là phòng khách chứ gì... Nhưng ta hỏi phòng khách có phải là nơi đấu ngựa không? Làm gì có phòng khách như bãi đỗ ngựa ấy? Tiền dân nghĩ mà xót ruột.

- Bẩm ngài chúng con làm theo thiết kế… Lạy chúa cái mà các anh gọi là thiết kế nó không phải là bài kinh Coran bất di bất dịch. Phải thay thiết kế phải thay đi mới được.

Nhà thầu chịu nghe không dám ho he. Theo ý mới các phòng khách đều được thu nhỏ.

Công việc đang chạy thì một hôm có mấy ông quan phóng xe con đến khách sạn. Ngài đương quyền dẫn đội khảo hạch nói chung là vui nhưng đến lúc ra cửa ngài mới nhìn lên trần băn khoăn hỏi:

- Thế không làm mái vòm trần cuốn à?

Câu hỏi làm nhà kiến trúc sư trẻ tuổi bủn rủn đầu gối anh ta chết lặng đi mấy phút bây giờ mới đủ sức định thần để hỏi lại.

- Xin ngài thứ lỗi con không hiểu định nói mái vòm cửa cuốn thế nào ạ?…

- Đó mới là kiến trúc lối Thổ. Những người vào khách sạn sẽ là người nước ngoài vì thế khách sạn phải theo lối Thổ ta… Anh xem nhà cửa nước Thổ bao giờ ai không có mái vòm trần cuốn.

- Nhưng thưa ngài trong bản thiết kế…

- Thiết kế là cái gì? Nhờ nhà thầu làm thiết kế bao giờ chả vậy. Họ biết gì về kiến trúc và tâm hồn ta nào?

- Các quan tuỳ tùng cúi cả đầu xuống. Nhà thế này thì ai cần? Nhất thiết kế phải có mài vòm trần cuốn. Trông thấy tiền dân tiền nước mà xót cả ruột.

Làm mái vòm trần cuốn cho cả nhà thì tốn phí quá nhà thầu chỉ dám theo tinh thần dân tộc ở một đôi chỗ dễ nhất.

Công việc xây cất đã đến lúc hòm hòm thì giới chức quyền lại theo bánh xe con lăn đến. Ngài quyền cao đi trước buồn rầu nhận xét:

- Úi dà! Sao lại nhiều hành lang thế nhỉ?... Phòng thì ít lối lại nhiều. Ở đây dễ lạc như vào rừng... Thật xót tiền dân...

Làm đi làm lại mãi chẳng còn biết thời hạn ra sao? Công việc mịt mùng không dự báo. Báo chí đã bắt đầu đưa đẩy. Muốn nhanh thì nhà thầu phải đổi kiểu mái. Nhưng những cuộc tranh luận bất đồng lại nổi dậy. Dùng ngói gì? Ngói bản xứ hay ngói Mác-xây. Cuối cùng phương án ngói bị đổ và mái được làm bằng bê tông thường.

Công việc gần xong thì bỗng bụi đường tung dưới bánh xe con.

- Thế gạch men đâu? Khách sạn Thổ mà không có gạch men là thế nào? Các quan khách kinh ngạc hỏi.

Sau đó mọi người vào phòng khách. Phòng khách không có một cây cột. Ngài trưởng đoàn bảo:

- Ở đây không có cột mà cột lại cần. Cầu trời cho mái đừng sập...

- Bẩm ngài an tâm không sập được đâu ạ chúng con đã tính.

- Đã tính? Đến lúc nó sập thì mang cái tính của các anh ra mà trừ à?

Ngài quay lại đám sau lưng:

- Thế nào các ông trần sập được chứ?

- Bẩm dạ được ạ...

- Thế nào cũng đổ nặng thế kia cơ mà? Lại còn đồ đạc trên ấy nữa... Rồi người vào lại đông... thế nào cũng đổ...

- Nổ như bom ấy chứ...

- Bao nhiêu là tiền vứt qua cửa sổ... Thật xót tiền nhà nước... các anh nghe không? Ai cũng bảo đổ... Thật xót tiền Nhà nước... các anh nghe không? Ai cũng bảo đổ... Thêm mấy cái cột có phải là lạ kiểu...

Chiều ý mới các phòng khách đã có thêm cột. Một ngài dẫn đầu một đoàn lãnh đạo khác đã biến dãy cột vuông thành gạch vụn. Trong sách giáo khoa thư ngài học hồi bé ngài thấy có ảnh đền đài Hy Lạp toàn cột tròn cả chứ không lai căng thế này. Tiền nhà nước vứt ra cửa sổ thật là xót ruột.

- Bẩm quan dễ như trở bàn tay thôi chúng con sẽ có cột tròn.

Đến lúc tường ngoài đã chạm trổ hoa văn thì một quan lớn đến thăm trách cứ: - Những công trình hiện đại người ta dựng mặt tiền bằng kính chứ!

Cuối cùng rồi cũng đến lúc mọi việc coi là xong xuôi Chỉ còn một công việc cuối cùng. Một ngài quan khác nhận xét rằng cầu thang dốc quá người đứng tuổi lên có phần mệt.

- Bẩm quan còn thang máy. Vị nào trọng tuổi thì còn thang máy.
- Nếu vậy thì xây cầu thang làm gì? Các anh chăng biết xót tiền quốc gia! Cầu thang cũng phải có ích chứ.

Sửa xong cầu thang. Một nhà kiến trúc sư nổi tiếng nước ngoài đến thăm.

- Một kiến trúc trứ tác! Xứng danh làm đại bản doanh Liên hợp quốc.

Gạch men mặt tiền và trên tường mấy hành lang mái vòm trần cuốn chấn song sắt hình hoa kim cương mái nhà có ô văng những thứ đó hoàn toàn theo tinh thần Thổ Nhĩ Kỳ. Ngược lại chóp mái lại theo đúng phong điệu Bắc Âu những cầu vồng phòng khách mượn lối cung đình Thổ. Phòng khách chính giống lối đại sảnh thậm chí còn lớn hơn những đại sảnh A ten... Rồi còn những mẫu mực xuất sắc của lối kiến trúc Ý… Nhà tắm nhà vệ sinh được thiết kế theo kiểu Mỹ. Rồi lối xây Ấn Độ đường Trung Hoa... Tất cả cùng chen vai thích cánh.

- Tuyệt! Nhà đại kiến trúc ngoại bang thốt lên - làm sao các ông có thể đưa nổi mọi kiến trúc vào một lâu đài như thế?

- Chúng tôi xây đi xây lại cái trứ tác này suốt chín năm đấy! Mà lại còn tằn tiện được bao nhiêu tiền dân! Ông chủ nhiệm công trình tự hào đáp lại.

More...

THƠ BÙI KIM ANH

By Trần Chiểu

Sau khi đọc bài “Chòng chành thi phú giữa tai ương” nhiều bạn đọc đã gửi email về lethieunhon.com đề nghị giới thiệu những tác phẩm mới của nhà thơ Bùi Kim Anh. Nhiều người dự đoán gần xa rằng qua cơn bĩ cực chắc chắn thơ của chị sẽ khác trước. Có thể 3 bài thơ hôm nay nhà thơ Bùi Kim Anh trình bày trên trang web này sẽ giúp mọi người hiểu hơn về chân dung một người đàn bà đã tìm được nơi trú ngụ trong thơ!

 

12 tiếng cuối

Tiễn đưa năm một mâm cỗ đầy

Hương khói ngạt ngào

Giàu và nghèo cùng đốt tiền cúng lễ

Bước từ cửa cầm la bàn định hướng nhanh nhẩu lộc về

Chuông đồng hồ đếm đến 12 tiếng cuối

Chuông chùa già nua thanh thoát ngân không biết mỏi

Trẻ con đợi đón tiền mừng tuổi thức vật vờ

Quần áo quen hơi lượt là ra mới

Có một chữ ngờ đi tìm may mắn theo người hợp hạp của năm

Một phút để nỗi niềm tự quên dể cái ác và cái thiện cùng chắp tay khấn lạy

Tập tục giống như thói quen lân la theo người đàn bà đi chợ mua hàng ngày   

                                                                                                          Tết                              

Tập tục được nâng cấp như giá thị trường dồn dập chạy những vòng đua

Lời chúc tụng mở ra sớm mồng một công thức từ thủa chưa biết lập trình

Lời chúc tụng thoáng ra trong cơ chế mới

Tiễn và đón bắt tay nhau trước ngưỡng cửa mỗi căn nhà

Ghét và yêu ôm nhau diễn màn đầu vở kịch dài năm đang tới  

 

Về với quê hương

Ta là đứa con gái sinh ra từ quê ngoại

Iu ấp lòng bà thành hai tiếng quê hương

Kí ức tuổi thơ lục lọi bộn bừa

Chỉ còn lại một lần tắm ao nhà trở về năm mười tuổi

Chỉ còn lại một lối gập ghềnh cỏ ướt dẫn đến mộ ông giữa cách đồng ngút lúa

Không còn ai người thân

 

Ta là khách trọ ở quê hương trả tiền phòng

Lật mở mớ tóc xoã xoà mảnh trăng thượng tuần thõng qua ô cửa

Gió vẫn gió thoảng hương cau đầu ngõ

Gió chia cho thời gian mùa lúa

Đêm nay gom cho ta những chữ cái rời rạc ghép về hai chữ quê hương

Mẹ gánh ta qua dòng sông xưa chỉ có bến phà gánh ta đi trên con đường dài không đo cây số

Nắng khô tuổi thanh xuân cạn kiệt lúc tuổi già

Ta ở phố dòng người xô vào bụi bặm

Mỗi ngày tâm hồn mất đi yên lặng mỗi ngày vầng trán cày thêm rãnh lo toan

Sự kỳ diệu như hạt thóc nhỏ nhoi như lặng lẽ đêm nay trăng chiếu giấc ngủ quê êm ả

Sự kỳ diệu cho ta vượt qua bản ngã yếu hèn cho nhịp sống không tuột xuống con dốc của ghét ghen và thù hận

Những tứ thơ giãy đạp khát con nước sông quê thèm ầu ơ của ngày xưa xa ngúc ngoắc

Ta là khách trọ ở quê hương trả tiền phòng

Ký ức trở về thả ước mong

 

Giấc ngủ hờ

Lời buồn gửi lại cho ai

Lục trong đêm biết liệu mai nắng nhiều

Lạc vào hơi gió phiêu diêu

Chạm hơi sương biết niềm yêu vẫn nồng

Lời buồn gửi lại mùa đông

Kiến thơ thẩn thả mêng mông cõi nào

Bước thì bước thấp bước cao

Đi đâu cũng sợ mưa rào ướt thân

Khi vui lại thoáng tần ngần

Lời buồn gom mãi trả dần vào thơ

Một đời tìm một giấc mơ

Thảnh thơi tìm chốn ngủ hờ hững thôi

More...

TIỀN VÀ LUÂT NHÂN QUẢ

By Trần Chiểu

 

TIỀN VÀ LUÂT NHÂN QUẢ

 

ĐOÀN TUẤN

 

Thiên hạ ai cũng nói đến tiền. Song có một kẻ không thích tiền. Hắn sợ tiền. Bởi học thuyết của hắn cho rằng đồng tiền là thủ phạm chính gây nên mọi sự bất ổn trong xã hội. Hắn đã xây dựng một xã hội mà trong đó người dân tuyệt đối không được sử dụng đồng tiền.

Và kết cục số phận của hắn và số phận xã hội đó thế nào mọi người đều biết. Hắn chính là Pol Pốt với chế độ kỳ quái có tên gọi là “Campuchia dân chủ”.

Kể lại câu chuyện đó với bạn đọc để người viết mong bạn đọc có dịp nhìn đồng tiền từ một phía khác cực đoan phía không cần tiền. Để thấy rằng không thể có một xã hội mà trong đó người dân không tiêu tiền. Và lúc này chúng ta đang sống trong một xã hội đặc biệt là trong một thời điểm mà người ta nói quá nhiều đến tiền.

Cách đây ít lâu người viết bài này có dịp gặp bà Thu An- diễn viên điện ảnh- trên đường Trần Hưng Đạo Hà Nội. Chuyện trò lan man về sức khỏe và công việc. Bà kể chuyện sau khi đóng phim có anh đạo diễn đến nhà trả tiền đóng phim cho bà. Khi anh ta về bà giở tiền ra đếm thì mới hay trong mỗi tập đều bị rút lõi vài ba tờ. Bà đành phải cười buồn vì không biết truy tìm thủ phạm ở đâu. Có bà đồng nghiệp an ủi: “Tôi cũng bị thế nhiều lần rồi. Thôi thì của đi thay người.” Người viết bài này chia sẻ bà yên tâm nó lấy của bà thì lúc khác người khác sẽ lấy của nó. Bà cười hóm hỉnh hãy đợi đấy thử xem. Rất lâu sau người viết bài này được tin cậu con trai người đạo diễn đó bị mất xe máy. Gọi điện cho bà giọng bà thảng thốt: Thế à? Sao khổ thế? Tôi có mong chuyện này xảy ra đâu?- Bà thấy chưa ác giả ác báo. Nhân quả nhãn tiền mà.

Lại một chuyện khác trong làng điện ảnh. Có ông đạo diễn nổi tiếng là tham. Ăn chặn đủ thứ. Từ tiền kịch bản đến tiền diễn viên tiền bối cảnh tiền quay phim… Anh ta mang tiền về nhà mình nhiều đến nỗi có lần con anh ta mở tủ bị những cục tiền đổ ụp xuống đầu xuống mặt. Song kết cục vẫn thật buồn. Vợ anh ta bỗng mắc bệnh nan y. Còn cậu con trai bỗng sinh đổ đốn bỏ học lêu lổng và xung khắc với bố không bao giờ thèm nói chuyện với bố. Giờ đã nghỉ hưu mỗi khi gặp lại bạn bè anh đều khuyên một câu đừng bao giờ để cho con cái biết mình có nhiều tiền! Thiên hạ còn bao nhiêu chuyện khác liên quan đến luật nhân quả của đồng tiền. Luật nhân quả không chỉ liên quan trực tiếp đến người gây ra nhân mà nó có một sự vận động vô hình nào đó ta không thể nhìn thấy được song một lúc nào đó nó giáng cái quả hết sức khắc nghiệt đến chính những chỗ mà ta không ngờ nhất đến chính những người thân của ta. Người viết nhớ một câu của kinh Phật là trong tất cả mọi luật của con người thì luật nhân quả là luật quan trọng nhất.

alt

Nếu gặp may đồng tiền đến với ta như một điều phúc. Nhưng giữ được đồng tiền ấy lại liên quan đến một vấn đề khác. Ấy là cái đức ân đức hay đạo đức. Liệu ta có đủ đức để giữ được số tiền đó không? Nếu ta không đủ đức để giữ được thì số tiền đó những đồng tiền đó sẽ hiện nguyên hình mặt trái của nó. Tức là nó sẽ biến thành quỷ thành ma. Nó sẽ làm khổ ta tàn phá ta đưa lối dẫn đường ta vào hết lỗi này sang tội khác. Và chỉ có cái chết may ra mới làm ta hết đau khổ.

Dư luận xì xào về cô diễn viên nào đó nay đi xe này mai thay xe khác. Cô ấy đi ra ngoài có vẻ vung vinh. Nhưng ai biết cô ấy những lúc trong tay các đại gia đã như súc thịt như đồ chơi không hơn không kém. Rồi những lúc bẽ bàng chán xe chán tiền chán tất cả. Nhiều tấm gương đồng nghiệp đi trước và xung quanh cô thấy đời mình kết thúc sao mà sớm vậy.

Đồng tiền đến với ta một cách dễ dàng cũng đi khỏi ta một cách tương tự. Không tin bạn hãy thử kiểm nghiệm đời mình. Khi vận tốt đến bạn có thể giành được phần thắng trong cuộc chơi không công bằng. Nhưng khi vận xấu đến bạn sẽ âm thầm trả giá. Lúc đó nằm một mình vắt tay lên trán ngẫm lại bạn mới biết sợ cái bí ẩn của quy luật cuộc đời.

Tôn giáo dạy chúng ta nên biết ăn năn hối cải. Luật pháp ngăn chúng ta không làm điều xấu. Ta có thể đi nhà thờ xưng tội hay vào chùa cầu tai qua nạn khỏi. Và luật pháp có thể không chạm đến ta. Song có một thứ luật mà Chúa hay Phật cũng đều tuân theo một thứ luật vô hình giúp ta tin và hy vọng vào cuộc sống. Đó là luật Nhân Quả. Đối xử với đồng tiền một cách đúng mực bạn sẽ có tình yêu và hạnh phúc.

More...

NGƯỜI CÕI ÂM - TIỂU THUYẾT

By Trần Chiểu

NGƯỜI CÕI ÂM

TIỂU THUYẾT CỦA TRẦN CHIỂU
  

 alt

CHƯƠNG MƯỜI HAI

 

Bàn đi tính lại kỹ lưỡng thấy bố mình là một người hùng có danh tiếng khắp Hà Lâu tổng cần phải làm cho mọi người biết hơn thế nữa Trần Truởng lại là một đại gia nổi tiếng giàu có cho nên anh em họ quyết đinh xây lăng mộ bố phải to hơn lăng Vua Minh Mạng là đúng. Hiện tại bây giờ nguời ta xây lăng mộ cho ông bà bố mẹ to hơn lăng Vua Minh Mạng nhan nhản ra đấy chứ có mình ai đâu mà sợ ngườì đời quan xiêm đàm tiếu. Nhưng Trần Trưởng vẫn cho việc đó không quan trọng bằng việc yểm đảo nên nhất định bằng mọi giá phải mời thầy địa lý nguời Tàu giỏi sang lo đại sự chứ không chơi với mấy anh thầy cúng làng nhàng ở làng ở tổng.Thị Măng thông thổ bên nuớc Tàu đi khắp lục tỉnh mới mời đuợc Mộc Thôn thầy địa lý nổi tiếng nhất tỉnh Quảng Tây về. Theo thầy địa lý nguời Tàu này thì mả Trần Tăng không kết được là do thổ đất đứt long mạch lại nhìn về huớng Bắc đầu thấp hơn chân những ba phân nếu không cải gia tộc sẽ lụn bại là điều chắc chắn cho nên thi thể ông nhà phải chôn ở tư thế đứng trong huyệt sâu hai mét ba mươi phân mỗi bề rộng một mét rưỡi xung quanh bao một lớp gỗ đinh hương trên đồi thông nhìn ra biển cả như một bậc vương giả.Trần Trưởng phải bỏ ra năm tỷ chi vào việc trả nghĩa bố.

Trần Truởng mời ba cụ thiếu tổ chi Trần Gia đến thỉnh ý. Các cụ bảo từ cổ chí kim chưa từng ai chôn đứng cha mình như vậy nhưng cháu đã tin người thì phải theo nguời Tàu thâm làm phật ý là họ phản. Trần Truởng thưa lại:

- Các cụ lo xa thế là phải con xin thưa là thầy địa lý này cao tay nhưng có tâm có đức chứ không bát nháo như một số thầy địa lý vô đạo đã sang ta lừa đảo.

- Thế thì cháu cứ làm theo lời chỉ giáo của thầy. Cụ Thiếu tổ nói.

Trần Truởng chọn ông Đặng Bành một trong số muời kiến trúc sư giỏi nhất tỉnh Bắc thiết kế lăng mộ bố kiểu lăng Vua Minh Mạng. Trong khuôn viên lăng mộ có cái huyệt sâu hai mét ba mươi phân mỗi bề rộng một mét rưỡi xung quanh bọc lớp gỗ đinh hương đúng quy chuẩn của một bậc vương giả.Muời ngày xong thiết kế. Kiến trúc sư Đặng Bành nhận năm chục triệu tiền thiết kế phí và tiền trách nhiệm giám sát thi công.

Gia tộc Trần Đại Gia thông qua và nhất trí giao cho nhà thầu 307 thi công.Hợp đồng kinh tế đuợc ghi rõ thời gian thi công ba tháng tròn. Suốt trong ba tháng ấy thầy địa lý Mộc Thôn sát cánh cùng với kiến trúc sư Đặng Bành giám sát thi công một tấc không đi một ly không rời cho nên không mảy may sơ xuất dù chỉ là chi tiết nhỏ nhất. Lăng mộ Trần Tăng một lăng mộ hoành tráng bậc nhất xứ An Bang làm vẻ vang cho gia tộc đại gia Trần Trưởng.

Đúng ngày Hoàng đạo gia tộc Trần Đại Gia mở cửa lăng đưa thi thể Trần Tăng vào đúng vị trí kim la bàn chỉ hướng Nam. Thầy địa lý Mộc Thôn mới cho hạ huyệt ở tư thế đứng trong cái huyệt sâu hai mét ba muơi phân mỗi bề rộng một mét ruỡi xung quanh bọc một lớp gỗ đinh hương đúng nghi thức của bậc vuơng giả như sách Khổng gia đã dẫn mới trừ được hung trị được tà mang phúc lộc cho con cháu muôn đời sau. Sau đó thầy địa lý Mộc Thôn còn dùng bùa yểm nơi phần mộ Trần Tăng theo đúng chiêu Tôn Tử chôn cất cho bậc vương. Việc tế Cải cát do họ nội tộc chi Trần Gia lo liệu.

Họ nội tộc Trần Trưởng tổ chức ruớc bài vị ra lăng mộ để tế Cải cát cho vong linh Trần Tăng siêu thoát đó là một lễ ruớc bài vị độc nhất vô nhị diễn ra ở Hà Lâu tổng trong nửa thế kỷ qua. Đi đầu là đội chiêng trống gồm sáu nguời trong đó có hai người khênh trống một người đánh trống hai người khênh chiêng một người đánh chiêng và muời hai nguời cầm cờ thần sau đó hàng chấp kích đi bên tả hàng bát bửu đi bên hữu mỗi hàng chín nguời tất cả đều mặc đồng phục đại lễ màu vàng đầu đội nón chóp đỏ chân đi giày đen. Tiếp đến kiệu Long đình ruớc hộp sắc kiệu Bát cống ruớc bài vị ghi dòng chữ Hiển khảo Trần Tăng.Trước bài vị đặt bộ tam sự gồm đỉnh huơng đồng để đốt hương trầm đôi hạc đồng trên đầu có nhánh hoa để cắm nến và đôi lộc bình men rạn tam ngư quần tảo cắm hoa.Sau cùng là các đoàn đội lễ gồm rượu lợn quay bánh dày hoa quả và các quan viên đoàn tế với người thân thích tham gia đoàn rước. Qua bến đò Quẹo đoàn rước bài vị Trần Tăng vuợt sông phải qua một chiếc xà lan thuê mãi tận bến Kiền sang mất hai tiếng đồng hồ mới tới lăng mộ Trần Tăng trên ngọn đồi thông nhìn ra biển lớn. Tế Cải cát cho Trần Tăng đủ mười tám nghi tiết: Tự lập Nghệ quán tẩy Thế cân Nghệ hương án tiền Phần hương Giáng thần Thiếu khước Phục vị Sảo khước Dĩ hạ giai quỵ Chủ nhân dĩ hạ giai xuất Cáo lợi thành Từ thân cử ai cúc cùng bái Bình thân Ai chỉ Phân chúc Triệt soạn Lễ tất.

Văn tế Cải cát Trần Trưởng thật thống thiết: Ô hô! Thương thay đấng thân vội bỏ xa cách di dung.Trước kia dõi theo gia sự chưa thu chưa hợp các phương nay mới chọn được địa nghi xây đắp cho yên u trạch. Nay thì lễ tất trung ngu ngóng mong dám cách nhỡ đây đắc sở mong cầu thể phách điện an tránh được khó khăn nặng giúp cháu con phúc khánh.Kính mời các vong linh bản địa xứ đồng cùng về phối hưởng.Cẩn cáo.Trời nổi giông tố. Biển gầm dữ dội.

 * * *

Thằng Út ở Sân golf 36 lỗ Sao Xanh không xảy ra chuyện gì phức tạp nhưng khi nó nhận lệnh sếp Trần Truởng ra đường cái quan đón quý khách từ Hà Nội xuống thì một đoàn nguời từ các làng đổ ra bao vây Sân golf 36 lỗ Sao Xanh. Một lão bà móm mém không còn cái răng nào nghe nói bà là em gái lão ông bị bắt về tội bắt giam người trái pháp luật tuyên bố nếu sân golf này còn tiếp tục gây ô nhiễm môi truờng làm tổn hại đến sức khỏe và đồng ruộng của làng Quao bị hủy diệt cả làng gồm tất cả nam phụ lão ấu sẽ thực hiện quyền công dân được Nhà nuớc bảo vệ phá bỏ sân cỏ và lấp lỗ golf. Lực luợng bảo vệ không giải quyết được phải điện báo lực luợng cảnh sát 113. Muời lăm phút sau những nguời lính chiến thiện xạ tới mới giải tỏa được đám nguời quá khích ra cách Sân golf 36 lỗ Sao Xanh một trăm mét. Sếp Trần Truởng tức tốc lên gặp sếp Ngụy khẩn thiết kêu cứu. Sếp Ngụy điện ngay về tỉnh.Tỉnh điện khẩn xuống huyện. Huyện tung nguời về mở cuộc điều tra vụ án phá hoại nghiêm trọng này. Nhà chức trách vào cuộc. Họ gọi lão bà không còn cái răng nào ấy đến hoạnh hoẹ nhưng trước sau bà chỉ một mực nói: Dân làng Quao chúng tôi đã ba lần cảnh báo ông chủ Sân golf 36 lỗ Sao Xanh phải nghiêm chỉnh thực hiện Luật Môi truờng nhưng rốt cuộc thỉnh cầu của chúng tôi bị rơi vào im lặng. Dân chịu cực không nổi phải đứng lên bảo vệ lợi ích sống còn của bản thân mình. Tất cả mọi người có mặt lúc bấy giờ đứng lên vây quanh lão bà và đồng thanh tuyên bố ông chủ Sân golf 36 lỗ Sao Xanh không nghiêm chỉnh thực hiện Luật Môi trường họ sẽ phá Sân golf 36 lỗ Sao Xanh.

- Đó là điềm báo gở.Thanh Lơ bảo chồng- ông phải tính ngay chuyện này sớm.Dân làng Quao không vừa đâu.Thời chống Nhật chín người bị mổ bụng cả làng xông ra không chiụ nhổ lúa trồng đay.Thời chống Pháp một trăm người dân chặn xe tăng địch chống càn bị dồn vào hang không một ai khuất phục chúng hun lửa thiêu nhưng không một ai đầu hàng và tất thảy đã anh dũng hy sinh.Thời đánh Mỹ thóc không thiếu một cân quân không thiếu một nguời. Thanh niên trai trẻ ra mặt trận chỉ còn người già đàn bà con trẻ ở lại đồng ruộng vẫn xanh tốt bốn mùa. Tôi hỏi ông một làng anh hùng như vậy họ đâu có chịu ông khuất phục. Một cây nứa không chống nổi cả con bè đâu. Ông đi giải xui đi.

Trần Trưởng phì cười khi vợ bảo đi giải xui.Y nghĩ đúng là chuyện đàn bà nhưng xem ra từ ngày đạ vào làm con nhang đệ tử đền Lân bà này thoáng thật.

More...

BỒI DƯỠNG MINH TRIẾT ĐỂ NỐI TIẾP TRỊ BÌNH

By Trần Chiểu

BỒI DƯỠNG MINH TRIẾT ĐỂ NỐI TIẾP TRỊ BÌNH

KHẮC MAI
 
Có hàng triệu lượt người đi vào Quốc Tử Giám. Nhiều người vào để ngắm Khuê Văn các những người khác nhất là giới trẻ hay đến sờ đầu những con rùa đội bia Tiến sĩ có cả những vị cán bộ cao cấp vào dự những lễ nghi nào đó. Mọi người đều xăm xăm bước vào. Chẳng mấy ai để ý đến một câu đối có ý nghĩa. Đó là tuyên ngôn cô đúc nhất về cái mục tiêu của Quốc Tử Giám.
Mọi nghi thức mọi biểu tượng mọi thờ phụng kể cả gác Khuê Văn bia Tiến sĩ nhà Bái đường nhà Thái học với lầu trống và gác chuông ở hai bên kể cả những cuộc tế lễ xuân thu nhị kỳ bao đời cũng chỉ là để hướng tới hai điều đó. Quả thật tiền nhân rất tinh tế đã cho khắc treo ở nhà Bái đường Quốc Tử Giám:
Dục anh tinh sử năng Quốc Tử Giám cao huyền mô khải
Dưỡng minh triết dĩ kế trị Thăng Long kinh trường tụ tinh hoa
Dịch nghĩa:
Nuôi dưỡng anh tài để sử dụng năng lực Quốc Tử Giám treo cao mẫu mực;
Bồi dưỡng minh triết đặng tiếp nối trị bình kinh đô Thăng Long tụ mãi tinh hoa.
Đôi câu đối có nhiều lớp nghĩa đối xứng nhau. Dục đối với Dưỡng trở thành một nghĩa kép vừa nuôi vừa dạy. Nuôi - dạy vừa là công việc đại sự của quốc gia vừa là nghĩa vụ của gia đình. Anh tài đối với Minh triết Sử năng (sử dụng năng lực tài năng) đối với Kế trị (tiếp nối cuộc trị bình); Quốc Tử Giám cao huyền mô khải đối với Thăng Long kinh trường tụ tinh hoa. Những cụm từ những khái niệm những ý tứ đối nhau khiến cho các ý tứ đối nhau cận kề thúc đẩy nhau làm nên sự thăng hoa của trùng trùng lớp nghĩa. Như nói Dục anh tài nhi sử năng thì vế đối là Dưỡng minh triết dĩ kế trị. Điều tinh tế và sâu sắc theo tôi ở hai phần đối này là ở chỗ: Cái năng lực cá nhân và xã hội của anh tài phải thăng hoa tích tụ thành Minh triết. Nếu anh tài có thể nuôi dạy (dục) mà nên thì trái lại Minh triết chỉ hình thành nhờ dưỡng (bồi dưỡng). Quả thật mọi nền giáo dục đều có khả năng “dục” - dạy dỗ nên những tài năng nên những thợ giỏi thầy tài ba nên bác học. Nhưng để có Minh triết trong một con người trong một xã hội thì phải “ dưỡng . Cho nên André Gide có lý khi nói rằng: “Minh triết không tồn tại trong duy lý mà trong tình yêu”. (La sagesse n’est pas dans la raison mais dans l’amour).
alt
Nhân loại từ rất sớm đã biết đánh giá cao giá trị Minh triết (Sagesse Wisdom). Người Hy Lạp xưa đã khẳng định cái tinh hoa của trí tuệ con người là “tình yêu minh triết ”. Họ sáng tạo ra chữ “philosofia” mà Philo nghĩa là tình yêu lòng ái mộ còn Sofia thì nghĩa gốc là minh triết. Về sau Philosofia được hiểu nghiêng dần thành triết lý triết học. Cho nên một triết lý một nền triết học thiếu vắng những giá trị minh triết phần cốt lõi làm nên nhân tính nhân cách con người làm nên cốt tủy tinh anh của xã hội thì cũng chỉ là ”sự tráo trở của phép biện chứng” giống như tên gọi một tác phẩm văn chương Mỹ - La tinh. ở phương Đông hai chữ Minh Triết được ghép lại thành khái niệm Minh triết đã được sử dụng rất sớm trong Kinh thi thiên Chưng dân có câu “Ký minh thả triết dĩ bảo kỳ thân” nghĩa là vừa minh (sáng suốt) vừa triết (nghĩ đến nơi đến chốn khúc chiết mạch lạc...) thì đủ để giữ gìn thân mệnh. Trong câu thơ trên xuất hiện đã hơn 2.500 năm nói người tài đức có minh triết đủ để giữ gìn thân mệnh. Tuy nhiên có thể suy ra không chỉ một thân mệnh cá nhân mà còn có thân mệnh một quốc gia dân tộc một chế độ nhà nước một chính đảng hay hẹp hơn là của một công ty xí nghiệp một tập đoàn kinh tế một đơn vị xã hội nào đó nữa. Quả thật chí lý muốn giữ gìn thân mệnh phải có minh triết. Nhận thức cái hay cái đúng cái tốt cái ích của Minh triết ở trong nước ta thì như đôi câu đối nói trên ở cổng Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội (mà nhiều người đã thờ ơ đi qua) còn có thể nói đến quan niệm của Ngô Thì Nhậm một danh nho một nhà chiến lược nhà ngoại giao nhà thiền học thế kỷ XVIII vị quân sư của vua Quang Trung. Trong bài phú Thiên quân thái nhiên (Cái tâm thanh thản) nói về thái độ ứng xử của kẻ trí thức ông đã đề cao Minh triết:
Cung kính nhi sự thượng như phong tòng hổ vân tòng long.
Minh triết dĩ bảo thân vô cứ vu lê khốn vu thạch.
Có nghĩa là: Kẻ trí thức cung kính phụng sự bề trên (quốc gia dân tộc đạo nghĩa...) phải tự do tự tại như gió theo hổ mây theo rồng. Có Minh triết thì đủ giữ gìn thân mệnh không sợ gì chông gai đá núi. Minh triết đã là cái tố chất của con người để tự do tự tại và để vượt lăn gian nguy trở ngại.
Trong thời hiện đại trước những thử thách của cuộc đời trước những suy đồi cá nhân và xã hội tầm vóc toàn cầu trước sự thất vọng với các triết thuyết người ta đang quay lại đi tìm Minh triết. “Ngày nay trước sự thất vọng đối với các triết thuyết Minh triết đã trở thành luồng tư duy chính đương đại”. (Dẫn theo Wikipédia). Người ta dẫn câu nói nổi tiếng của Thomas Jefferson (vị Tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ và cha đẻ của Tuyên ngôn độc lập Mỹ) ”Nếu biết phối hợp minh triết với quyền lực sẽ ít dùng quyển lực mà hiệu quả lớn”. Tiến sĩ Lloyd Bruce (Anh quốc chuyên gia về lý thuyết điều hành lãnh đạo) cũng khuyên: “Các nhà lãnh đạo nếu không hiểu minh triết và không biết ứng dụng Minh triết họ sẽ trả giá đắt cho sự vô tâm của mình”.
Cha ông ta đã mách bảo để chúng ta đừng vô tâm với Minh triết. Xin tìm học để ứng dụng vào kinh tế vào chính trị vào văn hóa giáo dục vào lối sống và tâm linh con người.

More...

NHÂN THỂ DỮ TÂM KINH

By Trần Chiểu

NHÂN THỂ DỮ TÂM KINH

Đinh Quang Tỉnh ST& giới thiệu
 
Chúng tôi xin giới thiệu đôi nét  về thư pháp chữ Hán và thư pháp Áalt Đông nói chung trước khi tìm hiểu về nghệ thuật Thư pháp “Nhân thể dữ tâm kinh” là thư pháp được viết trên những vùng nhạy cảm của phụ nữ có lẽ khởi nguồn từ Trung Hoa. 
Thư pháp Á Đông là nghệ thuật viết chữ đẹp có nguồn gốc từ Trung Quốc. Người ta dùng bút lông chấm mực tàu viết chữ Hán trên các loại giấy tốt hay vải lụa theo những phong cách khác nhau. Trong nghệ thuật thư pháp Á Đông có 5 phong cách viết là Chân (hay còn gọi là Khải) Triện Lệ Hành và Thảo với những quy luật đặc trưng riêng về đường nét cách thức thể hiện.
Người Trung Quốc cho rằng Lý Tư thừa tướng của triều đình nhà Tần là người khởi đầu cho nghệ thuật thư pháp vì ông là người được giao việc thực hiện cải cách và thống nhất văn tự sau khi Tần Thủy Hoàng thôn tính các nước nhỏ khác đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia thống nhất. Trải qua các triều đại sau đó sử sách đều có ghi nhận về sự xuất hiện của những thư pháp gia nổi tiếng như Vương Hy Chi đời Đông Tấn hay Tề Bạch Thạch đời nhà Thanh.
Tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm thư pháp thường bao gồm nhiều yếu tố rất khắt khe như điểm hoạch là đường nét kết thể là bố cục thần vận là cái hồn của tác phẩm... Cùng với sự xâm lược và đồng hoá của văn hoá các triều đại Trung Quốc trong một khoảaltng thời gian dài môn nghệ thuật này cũng trở nên phổ biến tại Hàn Quốc Nhật Bản và Việt Nam.
Có lẽ cao siêu hơn mấy bậc lại là Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể mà là phụ nữ đẹp lõa thể.
Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh là một trong những bộ kinh căn bản và phổ thông nhất của Phật giáo Đại thừa. Hầu như bất kỳ một buổi tụng kinh nào cũng được kết thúc bởi bài kinh này. Nó phổ biến đến nỗi hầu như ai đã từng đi chùa tụng kinh thì đều biết và thuộc ít nhất là một đoạn.
Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể 1
Bài kinh này là một trong các bài kinh của bộ Bát nhã kết tập tại Ấn Độ từ năm 100 TCN. Ban đầu bài kinh được ghi bằng tiếng Phạn khi truyền qua Trung Quốc thì được dịch sang tiếng Hán. Bài thơ – hay đúng hơn là bài kinh – được viết trên cơ thể của cô gái chính là bài Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh được viết bằng Hán tự theo bản dịch của ngài Huyền Trang.
Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể 2
Bài kinh chi vỏn vẹn có 260 chữ nhưng được xem là 1 trong những pháp môn tu quán chiếu để đi đến giác ngộ của những người tu học Phật.
Do đó sự ảo diệu bên trong bài kinh thì không có gì để nghi ngờ. Tuy nhiên sự ảo diệu ấy không phải ai cũng biết. Biết và hiểu thì lại càng ít. Hiểu rồi làm được lại càng ít hơn.
Trong tiểu thuyết Thiên long Bát bộ của Kim Dung chàng Hư Trúc khi ở trong hầm băng cùng Thiên Sơn Đồng lão bị bà ép ăn thịt uống rượu rồi ngủ cùng ‘Mộng cô’ câu niệm cửa miệng của nhà sư trẻ này là câu “sắc bất dị không không bất dị sắc ; sắc tức thị không không tức thị sắc ; thọ tưởng hành thức diệc phục như thị” (sắc chẳng khác không không chẳng khác sắc; sắc tức là không không tức là sắc; thọ tưởng hành thức cũng là như vậy).
Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể 3
Hư Trúc đã đọc câu kinh được xem là thâm ảo nhất trong bài kinh Bát nhã này.
Theo quan niệm Phật giáo sắc thọ tưởng hành thức được gọi là năm uẩn (ngũ uẩn). Năm uẩn tập họp lại mà thành thì gọi là chúng sanh hay con người.
Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể 4
Nói dễ hiểu theo ngôn ngữ hiện đại sắc là cơ thể thọ là cảm nhận tưởng là mong muốn hành là làm thức là biết. Trong năm uẩn này sắc thuộc về thực thể là thân là xác. Bốn uẩn còn lại thuộc về tâm là ý là ham muốn. Vì vậy khi nằm kề ‘Mộng cô’ để tránh cám dỗ của thân xác phụ nữ chàng Hư Trúc luôn tự nhủ rằng : sắc uẩn hay thân xác cô nương kề bên vốn là không thực rồi sẽ khô cằn già héo tan biến theo quy luật thời gian. Biết là vậy nhưng cảm nhận xác thịt thì lại khác nó xui khiến chàng trai trẻ chưa biết gì có những hành động theo bản năng. Và sau đó …..
Nói dông dài chẳng qua chỉ muốn khẳng định : nói ‘sắc tức thị không’ thì dễ nhưng gặp cảnh mà coi sắc cũng là không e rằng thì khó lắm.
Trở lại với người viết thư pháp trên cơ thể. Tôi phải công nhận là ý chí tinh thần ông rất tuyệt vời. Đối với một người viết thư pháp việc giữ cho tinh thần không xao động không phân tán bởi các yếu tố bên ngoài là rất quan trọng. Có tịnh thì tâm mới an nét chữ mới có thần bố cục mới hài hòa hợp lý. Một khi bút đã chấm mực tay đã ‘đề’ ‘án’ thì không thể dừng nữa chừng vì dừng thì bút khí ngưng trệ tác phẩm coi như bỏ đi. Đó là yêu cầu cơ bản khi chấp bút viết chữ trên giấy trên vải trên đá gỗ. Đây ông lại viết trên một thực thể sống đầy sinh lực. Mỗi nét bút ông kéo lên hay đi xuống là đi cùng nhịp thở cùng cảm xúc của cô gái. Quả là tâm không động. Người để cho viết tài người viết lại càng tài. Có lẽ cả hai đều vượt qua cái giới hạn của hình sắc để đạt đến cái độ ‘sắc tức là không’ “vì không có những chướng ngại trong tâm nên không có sợ hãi và xa rời mọi cuồng xi mộng tưởng”.
Câu kinh “Quán tự tại bồ tát” mở đầu tác phẩm từ bên trái gần tim (tâm kinh mà) xuống ngực rồi được viết dần sang bên phải đến đùi phải rồi kết thúc bên đùi trái với câu chú “yết đế yết đế …”
Và rồi cảm thấy như chưa đủ ông lại khóa tất cả lại bằng một chữ “Phật” thật lớn ở sau lưng.
Toàn triện phía trên danh ấn phía dưới ; đề từ lạc khoản ; chữ đen da trắng triện son đỏ nhìn thực mà không tục trần trụi mà không dâm dục đúng thư pháp đúng nghệ thuật.
Trong chữ có pháp trong hình có ý đọc ‘sắc’ ‘không’ trên thân trần sắc mới thấy cái ảo diệu của Tâm kinh và cái đẹp của thư pháp vậy.

More...

CHUYỆN THẰNG ĂN CẮP

By Trần Chiểu

CHUYỆN THẰNG ĂN CẮP

 
Thứ tư 03/11/2010

Một hôm chạnh nhớ cố hương bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai bác lên đường về quê hương.
Trong vùng quê người thương gia giữa một cánh đồng dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch một cái giếng khơi nước mát và trong vắt cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi giải khát hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước dọn dẹp chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.
Sau nhiều ngày lặn lội đường xa người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa nắng gắt. Ði ngang qua chùa bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát rửa ráy sạch sẽ xong bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. Lễ xong người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả đường về còn khá xa bác liền rảo bước bỏ quên túi hành lý trong chùa.
Buổi chiều hôm đó một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng.
Ngang qua chùa ngày nào cũng vậy bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm: “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.”
Về đến nhà bác nông dân gọi vợ con ra trỏ vào túi vải nói:
- Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng đầy đủ mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta.
Giở ra xem thấy có gói vàng to người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con:
- Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. Mọi điều bất chính bất lương mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!
Bác cất cẩn thận vào rương khóa lại.
Người thương gia rảo bước về gần đến làng nhìn xa xa ráng chiều êm ả những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách.
Vừa đến cổng làng người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ hốt hoảng bác vội quay lại con đường cũ vừa chạy vừa kêu:
- Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa!
Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên.
Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già hốt hoảng hỏi:
- Túi đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu?
Cụ già ngạc nhiên:
- Túi đồ nào của bác? Vàng nào của bác?
- Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này!
Cụ già vẫn bình thản:
- Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất có duyên còn có ngày lấy lại vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc bác lại mất luôn cả cái tâm công chính đỗ vấy cho người là cớ làm sao?
Gần đây có một xóm làng buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.
Người thương gia nghe ra nhận thấy mình vô lý bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn tiếp tục đi tìm. Tới làng ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gió đưa biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bảng đen với hàng chữ trắng viết to: “Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”
Người thương gia mừng quýnh đập cửa gặp anh nông dân ra mở hỏi:
- Bác là chủ túi đồ bỏ quên trong chùa?
- Vâng chính tôi. Tôi đã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.
- Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào? Trong đựng những gì?
Người thương gia trả lời:
- Ðó là túi vải trong đựng một ít lương khô đi đường.
Người nông phu nói:
- Thế thì không phải túi đồ của bác.
- Thú thật với bác cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.
Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra nói với người thương gia:
- Quả thật đó là túi đồ của bác. Xin mời vào nhận.
Người thương gia nhận đủ số vàng lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham để tỏ lòng biết ơn bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:
- Vàng của tôi tưởng đã mất may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.
Người nông dân ngạc nhiên:
- Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường có ơn gì mà được đền?
- Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.
- Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Cũng như lòng yêu dân tộc yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần? Thôi xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.
Người thương gia không còn lý lẽ gì để nói thêm bèn khoác hành lý lên vai bất thần vất gói vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy. Ý định của ông ta là bắt buộc bác nông dân phải nhận sự đền ơn nhưng bác vội nhặt gói vàng rồi đuổi theo miệng hô hoán:
- Bớ người ta thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp.
Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt bác nông dân hỏi:
- Hắn đã ăn cắp vật gì của bác?
- Hắn định ăn cắp cái tâm công chính và chân thật mà tôi có được từ ngày tôi học từ đạo Phật!
Những người làm việc công mà đòi trả ơn làm việc thiện chỉ do tư lợi làm việc nước cốt vì quyền hành địa vị... thảy đều cần soi vào chuyện này!!
alt


More...

CÁI BÌNH NỨT

By Trần Chiểu

CÁI BÌNH NỨT

PHƯƠNG THẢO (Theo Chicken)

Một người gùi nước ở Ấn Độ có hai cái bình gốm lớn mỗi cái được cột vào đầu của một sợi dây và rồi được đeo lên cổ anh ta để mang về nhà. Một trong hai cái bình thì còn rất tốt và không bị chút rò rỉ nào cả. Cái còn lại bị nứt một chút nên nước bị vơi trên đường về nhà chúng chỉ còn lại có hai phần ba.
Hai năm trời anh ta vẫn sử dụng hai cái bình gùi nước đó mặc dù lượng nước mà anh ta mang về nhà không còn nguyên vẹn. Và lẽ dĩ nhiên cái bình tốt tỏ vẻ hãnh diện trong khi cái bình nứt thì cảm thấy vô cùng xấu hổ.
Một ngày nọ bên dòng suối cái bình nứt đã thưa chuyện với người gùi nước: “Tôi rất xấu hổ về bản thân và muốn nói lời xin lỗi ông về thời gian đã qua”.
Anh ta hỏi lại cái bình: “Sao lại phải xin lỗi? Mà ngươi xin lỗi về chuyện gì?”.
Cái bình nứt đáp lại: “Suốt hai năm qua do vết nứt của tôi mà nước đã bị rò rỉ trên đường về nhà ông đã phải làm việc chăm chỉ nhưng kết quả mang lại cho ông đã không hoàn toàn như ông mong đợi”.
Với lòng trắc ẩn của mình người gùi nước rất thông cảm với cái bình nứt ông ta nói: “Khi chúng ta trên đường về nhà ta muốn ngươi chú ý đến những bông hoa tươi đẹp mọc bên vệ đường
alt
Quả thật cái bình nứt đã nhìn thấy những bông hoa tươi đẹp dưới ánh nắng mặt trời ấm áp trên đường về nhà và điều này khuyến khích được nó đôi chút. Nhưng khi đến cuối đường mòn nó vẫn cảm thấy rất tệ bởi nước đã chảy ra rất nhiều một lần nữa nó lại xin lỗi người gùi nước.
Người gùi nước liền nói: “Ngươi có thấy rằng những bông hoa kia chỉ nở một bên vệ đường chỉ phía bên ngươi không?”. Thật ra ta đã biết rất rõ về vết nứt của ngươi và ta đã lấy điểm yếu đó để biến nó thành lợi điểm. Ta đã gieo một số hạt hoa ở vệ đường phía bên ngươi và mỗi ngày trong khi ta gùi nước về nhà ta đã tưới chúng từ những chỗ rò rỉ của ngươi. Giờ đây ta có thể hái những bông hoa tươi tắn ấy để trang trí nhà cửa của ta. Không có vết nứt của ngươi ta đã không có những bông hoa duyên dáng để làm đẹp ngôi nhà của mình.
alt
Trong cuộc sống cũng vậy ai cũng đều có những vết nứt vì vậy chẳng ai là hoàn hảo cả tất cả chúng ta đều có thể là cái bình nứt nhưng nếu chúng ta biết chấp nhận và tận dụng nó thì mọi thứ đều có thể trở nên có ích.
Hãy nhớ trong điểm yếu chúng ta sẽ luôn tìm thấy lợi điểm

More...

NGƯỜI CÕI ÂM - TIỂU THUYẾT

By Trần Chiểu

 

 

NGƯỜI CÕI ÂM 

TIỂU THUYẾT CỦA TRẦN CHIỂU  

 

 alt

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

 

Dự án Sân golf 36 lỗ Sao Xanh đã được đưa vào chương trình nghị sự của giới chức Thanh tra.Người phải trình thuyết đưa ra chứng cứ bảo đảm sự minh bạch đối với nông dân những người bị mất đất vì Sân Golf 36 lỗ Sao Xanh không phải là Trần Trưởng mà là sếp Ngụy. Sếp Ngụy không thể thoái thác trách nhiệm nhưng trách nhiệm đó bất khả kháng.Sao lại nói trách nhiệm bất khả kháng? Nhiều người đặt câu hỏi chất vấn buộcTrần Trưởng thưa lại như sau:

-Việc đền bù cho dân bị thu đất đúng giá quy định sếp Ngụy duyệt chỉ còn mỗi việc tổ chức cho dân chuyển đổi sang nghề mới là chưa thực hiện được.Vì Sân golf 36 lỗ Sao Xanh mới đi vào hoạt động chúng tôi đang xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho họ nhưng không phải một sớm một chiều đã xong mà phải có thời gian.Thực tế chúng tôi đã làm được nhiều việc nhưng không thể thống kê ra đây để bào chữa cho mình.Xin các vị trước khi bổ vào đầu chúng tôi mong các vị mục sở thị xem cụ thể thế nào đã.Dù sao thì chúng tôi vẫn có khuyết điểm phải rút kinh nghiệm.

Tôi nhớ lại hồi Đoàn Thanh tra về thanh tra Dự án Khu vui chơi giả trí và Nhà ở Bạch Dương dân khiếu kiện sếp Ngụy rải thảm mời nhà đầu tư Trần Trưởng không xuất phát hoàn toàn vì lợi ích nhân dân mà thiên về lợi ích nhà đầu tư gây thiệt hại lớn cho công quỹ và đất đai của nông dân. Cuộc thanh tra nghiêm túc và đã chỉ ra những sai phạm lớn: sử dụng quỹ đất sai và sử dụng kinh phí hỗ trợ cho nhà đầu tư không đúng Luật Đất đai nhưng khi kết luận Đoàn Thanh tra chỉ đặt vấn đề rút kinh nghiệm. Sau khi đưa các dự án trên vào hoạt động Trần Trưởng từ chỗ hai bàn tay trắng tháo chạy khỏi nơi người ta định treo cổ đã đứng trong tốp 100 nhà tỷ phú. Sếp Ngụy vẫn an tọa ngôi cao.

Trần Trưởng tiếp tục được gia ân đầu tư Dự án Sân golf 36 lỗ Sao Xanh. Sân golf 36 lỗ Sao Xanh nằm trên địa bàn bốn xã có tổng diện tích khoảng 800 ha buộc phải bán 500 ha h luỵ đến 10.000 dân.

Chị Hương Thơm nghe nói vậy than thở:

- Ác thật. Ác thật! Việt Nam ta đã có trên 250 dự án sân golf nhưng môn thể thao này vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong khi nhiều quốc gia đã phanh môn thể thao này lại. Vậy thì có ảnh hưởng tới vấn đề an ninh lương thực?

- Yên tâm đi. Lo là lo thế thôi nhưng nước ta vẫn là nước trong tốp xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới.Thôi chuyện cái Sân Golf 36 lỗ Sao Xanh quên đi. Bây giờ tôi hỏi thật chị có nhận định gì về tương lai của bố con trai chị không?

- Rồng mà thất thế cũng như giun. Ông Ngôi Ngao đã nói thế! Chị Hương Thơm nói.Tôi không trả thù y.

- Tôi cũng nghĩ trả thù không mang lại điều gì tốt đẹp mà nó chỉ tăng thêm hận thù hãy nên tha thứ.Người xưa đã dạy như vậy mà chị.

- Anh là người đại lượng với cha con Trần Tăng.

- Chị cũng có tấm lòng nhân ái như vậy.Thôi việc dương thế để người dương thế lo chúng ta là Người Cõi Âm phải không chị Hương Thơm?

- Nhưng anh vẫn phải thường xuyên theo dõi tình hình cháu Út mong sao cháu an lành.

- Cảm ơn chị nhiều.

Chúng tôi quay lại Cung Điều dưỡng để hỏi bố tôi xem thằng Út thế nào vì tôi không muốn con trai mình đau khổ.

Cái sân golf tệ hại này lại gây ra bao nỗi oan khuất cho nông dân. Họ không chịu nổi bất công chà đạp lên cuộc sống yên bình của mình đã đệ đơn khiếu kiện ông chủ Sân golf 36 lỗ Sao Xanh.Ba tháng chờ đợi không thấy Đoàn Thanh tra về họ lại tiếp thục kiến nghị. Sau đấy mới có chuyện lạ xảy ra ở cái làng liên quan đến Sân golf 36 lỗ Sao Xanh như quý vị độc giả kính mến đã biết chuyện một nhân vật tóc bạc trắng thực hiện chuyến vi hành xuống với dân tìm hiểu thực chất về cái gọi là Dự án Sân golf 36 Sao Xanh. Thằng Út nó khẳng định chiếc xe bốn chỗ xịn bóng loáng loại chỉ giành cho cỡ bự đón nhân vật tóc bạc trắng ngay sau khi ông ra khỏi cổng làng.Trần Trưởng cho người thân tín xuống kiểm tra đi kiểm tra lại ba lần nữa đều kết luận như vậy. Sếp Ngụy lo lắng bảo Trần Trưởng:

- Ta phải thực hiện kế sách lấy da voi bọc gà thôi. Không cẩn thận cái sảy nảy ra cái ung dễ chuyển sang ung thư giai đọan cuối thì coi như vứt tất.

Trần Trưởng tức tốc lên Hà Nội.Phải xuất tướng là không thể đùa với lửa.Trần Trưởng tự nhủ trước khi lên đường.Cũng như các lần trước lần này Trần Trưởng vẫn được Hà Nội đón tiếp nồng nhiệt.Từ Bộ ấy Trần Trưởng đi thẳng đến Thanh tra gặp người anh em đồng hao. Sau khi đạt được yêu cầu giá như hồi cuối năm ngoái Trần Đại Gia đã có cuộc giao lưu ở Tứ Hải quán nhưng lần này hắn dúi vào tay nguời anh em cọc chèo hai ngàn đô la Mỹ rồi về thẳng. Trần Trưởng đánh giá cao những thông tin thằng Út cung cấp coi đó là công lao đóng góp không nhỏ của nó vào sự phát triển môn thể thao trứ danh hiện nay.

Thằng Út về nhà được ba ngày thì lão ông bị mất ruộng để làm Sân Golf 36 lỗ Sao Xanh chất vấn nhân vật tóc bạc trắng của chúng ta bị bắt về tội bắt giam người trái pháp luật.Đấy chỉ là cái cớ để sếp Ngụy thực hiện chiến thuật chuyên chính triệt để đối với những phần tử chống lại chủ trương đổi mới ở vùng đất chiêm khê mùa thối này. Chính lão ông đã vặn hỏi thằng Út và bắt nó phải khai đúng khai đủ khai hết cái Sân golf 36 lỗ Sao Xanh đã làm cho môi trường xung quanh từ mặt đất trong lòng đất nguồn nước và cả không khí đều bị ô nhiễm nặng nề dẫn đến hủy diệt cây trồng vật nuôi nơi nó liên đới. Không chỉ có thế mà nó còn làm cho dân buộc phải bán đất với giá bèo đang lâm vào cảnh khốn đốn vì thất nghiệp.Thằng Út phải khai đúng khai đủ khai hết mới đựợc tha.Hôm sau sếp Nguỵ báo cho Trần Trưởng biết bên Công an kiến nghị trả lại tự do cho ông lão ngay không thể trù trừ được.

Sếp Nguỵ nghĩ lung lắm biết đâu ông lão lại là người của nhân vật tóc bạc trắng tung ra điều tra Dự án Sân golf 36 lỗ Sao Xanh Công an họ mới phản biện nếu quả đúng như vậy thi gay thật rồi.Trần Trưởng bảo bắt người thì dễ nhưng thả ra bây giờ không khéo nguy to sếp Nguỵ điện cho cấp dưới bảo xin lỗi lão cho xong chuyện nếu cần thí cho lão chục triệu tiền là xong béng.Trần Trưởng bảo chưa chắc đã yên anh ạ có lẽ em phải lên tỉnh gặp sếp xem sao đã.Sếp ra tay ắt mọi chuyện đâu vào đấy ngay.

Đã vãn chiều.Trần Trưởng vẫn mải chuyện với thằng Út.

- Sếp ra tỉnh? Thằng Út hỏi.

- 15 phút nữa đúng giờ Hoàng Đạo ta khởi hành.

Trần Trưởng đưa cho con tôi bao thuốc 555 tiếp:

- Lẽ ra chúng phải bắt ta mới đúng.Cậu đã thế mạng ta.Đó là sự mất mát lớn nhất đắt giá nhất đối với cậu.Điều đó không bao giờ ta quên.

- Cảm ơn sếp.Sếp thượng lộ bình an.

Đúng lúc ấy mụ vợ tôi xuất hiện trực diện với Trần Trưởng ý nhị trách khéo y im lặng như đất. Ýchừng muốn có đi có lại.Trần Trưởng đi guốc vào bụng mụ. Y nói thẳng:

- Chớ làm những điều không đáng làm.Chớ muốn được những điều không nên muốn như thế là nhân cách vậy.

- Câu nói ấy của ông Mạnh Tử. Mụ nói.

Trần Trưởng cười ruồi:

- Chị cũng là người hiểu đời.

Trần Trưởng đưa cho mụ sắp bạc:

- Đây là số tiền tôi làm bổn phận với anh Tạ và cháu Út vì họ đã phải trả giá bởi sự trung thực! Trần Trưởng nói.

Mụ vợ tôi phát điên phát ngộ vì lời nói bất nhã của Trần Trưởng. Không kiềm chế nổi mụ cầm sắp bạc quăng vào mặt Trần Trưởng. May mà hắn né tránh được không thì đã vỡ mặt.           

More...