NGỤY QUÂN TỬ

By Trần Chiểu

NGỤY QUÂN TỬ

 

  

alt

8:33 AM - Thứ bảy 30/04/2011    

Nguyễn Việt Hà

Thể thao - Văn hóa & Đàn ông 

 

 

 

 

Ở tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung ngoài những tình tiết phiêu lưu ly kỳ những chiêu thức đánh nhau ngoạn mục thì có một điều làm văn ông hồi hộp khác hẳn những cây bút viết “chưởng” khác đó là việc tiên sinh dần dần từng tí kiên nhẫn vạch trần những đàn ông mang vẻ cao đạo. Độc giả thót tim nhẹ nhõm thở phào khi thấy lần lượt các mặt nạ Nhân Nghĩa Lẽ trí Tín của mấy tay đạo đức giả từ từ tụt xuống đặc biệt có kẻ còn lộ nguyên hình là thằng mặt người dạ thú. Để có được bút lực gai sắc thâm hậu ấy người đọc lương thiện đồ rằng cuộc đời của tiên sinh chắc phải thăng trầm đa đoan lắm. Bởi từ xưa đến nay để nhìn cho thấu chân diện của một ngụy quân tử là việc thiên nan vạn nan kinh khủng khó.

Đàn ông đạo đức thật vốn dĩ đã không hề đơn giản do trót có tài năng có phẩm hạnh họ thường bị đùn đẩy kẹt giữa những đỉnh cao ngóc ngách của các mối quan hệ xã hội. Hành trình hướng Chân Thiện Mỹ của họ liên tục đứt đoạn lổn nhổn đúng sai đa tầng đa nghĩa và thật nông nổi hời hợt khi vội vàng xét đoán thành kiến đánh giá. Thế nhưng độ phức tạp ở họ vẫn chưa là gì nếu phải so với những đàn ông đang tha hóa trở thành đạo đức giả. Và mọi sự càng chồng chất phức tạp hơn khi đám đạo đức giả ấy tiếp tục dùng trí thông minh tự xây cho mình những giá trị nhang nhác giống hệt như đạo đức. Nôm na có thể nói ngụy quân tử chính là những kẻ có đạo đức giả hai lần.

Chưởng môn phái Hoa Sơn Nhạc Bất Quần là điển hình lối lạc cho đám ngụ quân tử. Cái tham vọng mụ mị điên cuồng muốn làm thiên hạ đệ nhất cao thủ được tỉnh táo khôn khéo che giấu dưới cái vỏ bọc chí công vô tư không thèm danh lợi. Giống như nhan nhản đàn ông cao đạo thời nay mồm thì nói không cần nhưng đít âm thầm phấn đấu. Những đàn ông đó thích ra vẻ dè bỉu đám đông nhưng trong sâu luôn bị ám ảnh dằn vặt bởi cái hư danh do vẫn cái đám đông ấy lẫn lộn phong tặng. “Bất quần” theo nghĩa đen là chẳng thiết số nhiều vì thế khi đám ngụy quân tử xuất hiện trên các phương tiện truyền thông tất thảy trông đều rưng rưng cô đơn đẫm đầy cô độc. Bọn họ phẫn nộ nói về các hiện tượng đang tự đánh bóng tên tuổi rồi chua chát thở dài là phong khí học thuật bây giờ nhố nhăng quá. Sau một hồi nhiệt huyết diễn thuyết bọn họ rút môbai gọi về cho vợ hiền con ngoan là tối nay vẫn bận họp rồi ủ dột đi theo vài ba Mạnh thường quân dung tục thẳng tiến ra bãi biển Đồ Sơn. Trong bữa nhậu ê hề hải sản họ bật khóc khi ti vi đang chiếu cảnh bão lũ miền Trung và họ thành thật tự thú rằng miếng tôm hùm hôm nay đắng ngắt như miếng nhút. Lúc vào phòng karaoke hoặc mát xa họ trân trọng gọi các nữ tiếp viên là con gái giở ví cho xem đứa út cũng ngang tuổi các “con” đang du học ở Mỹ. Tối muộn quay về phòng riêng họ cau mặt khi thấy trong phòng xuất hiện một thiếu nữ trẻ. Sau một hồi cân nhắc lương tâm họ tặc lưỡi là đêm nay sẽ mất kiềm chế vì buổi chiều trót uống nhiều quá. Tất nhiên do có đạo đức dày gấp hai lần người bình thường họ cẩn thận đòi xem chứng minh thư. Bất hạnh thay cô bé vẫn đang ở tuổi vị thành niên họ đau đớn lên án bọn tú ông tú bà buôn người vật vã nuốt lệ cho phép gái trẻ ngồi lên lòng mình rồi không làm gì sang sảng kể cho thiếu nữ nghe về tấm gương của ông Liễu Hạ Huệ ở bên Tàu. Bình minh lên dưới ánh mặt trời rạng rỡ họ thanh thản tự hào không hiểu sao mà mình lại vĩ đại nhân văn đến thế.

Ở từ vựng của Nho giáo khái niệm quân tử là một khái niệm “quân tử” là một khái niệm “quân tử” thanh sạch cốt để chỉ một đàn ông có phẩm hạnh trong trắng có nhân cách thành thực hoàn thiện. Thuở ban sơ thời Thương - Chu (khoảng một nghìn năm tr. CN) khái niệm quân tử mặc định chỉ người có vị thế tôn quý đối lập với tiểu nhân là đám thảo dân không có địa vị gì. Phải đến thời Khổng Tử khái niệm này mới vượt thoát khỏi thông tục. Khổng Tử cho rằng dẫu bần cùng khổ sở quân tử vẫn là cao thượng quân tử còn tiểu nhân tuy có quyền chức sang trọng vẫn là hèn hạ tiểu nhân. Người quân tử đại loại là “Tâm tính thanh minh biết điều gì thì càng ngày càng tinh thâm thuần thục. Họ dốc lòng làm việc nghĩa không để ý đến nhỏ nhen danh lợi. Cái bụng người người quân tử tự nhiên thành thực hòa với mọi người nhưng không về hùa với người. Lúc khốn cùng thì cứ lấy nghĩa mệnh mà tự yên chứ không như tiểu nhân thế nào cũng là điều bậy bạ. Với trời đất họ thận trọng kính cẩn với người họ nhân hậu từ ái.” (Nho giáo Trần Trọng Kim). Đương nhiên những người như thế thì thiên hạ (tất nhiên có phụ nữ) yêu thương kính trọng lắm. Chính vì vậy mà vô số đàn ông cứ mở mồm là nói đạo đức đều ra sức phấn đấu để mong được người đời coi mình là quân tử. Và khi phải cố đạt điều gì người ta thường giả dối với chính mình. Ngụy quân tử ra đời.

Thành ngữ chuyện “chưởng” cay đắng cảm thán “chân tiểu nhân còn hơn ngụy quân tử”. Ở xã hội đương đại đang tươi đẹp của chúng ta nhỡ có đông đông tiểu nhân một tí thì cũng đừng nên bi quan đấy là tai họa.

More...

BA NGÔI SAO NỮ CHỤP ẢNH BIKINI CHO TẠP CHÍ THỂ THAO MỸ

By Trần Chiểu

BA NGÔI SAO NỮ CHỤP ẢNH BIKINI CHO TẠP CHÍ THỂ THAO MỸ 

Tạp chí thể thao Sports Illustrated (CNN) vừa cho ra mắt loạt ảnh Người đẹp và áo tắm 2011. Ngôi sao ném lao Leryn Franco cầu thủ bóng chuyền Kim Glass và VĐV lướt sóng Bruna Schmitz cùng góp mặt.

* Ảnh VĐV bóng chuyền Kim Glass.

Nguyễn Tuấn (theo SI)

More...

DƯƠNG VĂN MINH QUA CON MẮT NHỮNG THUỘC CẤP

By Trần Chiểu

DƯƠNG VĂN MINH QUA CON MẮT NHỮNG THUỘC CẤP

>> Một tháng sau 30.4: Sự mở đầu và kết thúc

Trong hồi ức của mình Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái người có mặt khi ông Dương Văn Minh Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn đọc tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn vào trưa 30.4.1975 đã viết:

"... Dẫu sao ông cũng đã hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dù là một tướng bại trận) để cứu thành phố này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát. Sau này tôi mới biết là ông và bộ tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch.

Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời. ... Ít ra ông còn giữ được nguyên vẹn Sài Gòn và phần còn lại của miền Nam tránh khỏi đổ nát và đổ máu thêm một cách vô ích...

Nhận xét của người cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã được một nhân chứng lịch sử - cựu Đại uý Phạm Xuân Thệ (nay là Trung tướng) - khẳng định một phần trong các bài viết về ông.

Phần còn lại cũng đã được nói tới bởi những nhân chứng lịch sử khác ở một lát cắt lịch sử khác và từ một góc nhìn khác. Họ là ông Nguyễn Hữu Hạnh chuẩn tướng Quân đội Việt Nam Cộng hoà Luật sư Triệu Quốc Mạnh hay nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu - những thành viên của cái nội các cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Thường là trong các cuộc họp báo quốc tế được tổ chức 5 năm một lần.

Ngày 28.4 năm ngoái họ lại tiếp tục thực hiện cái nhiệm vụ định kỳ này. Nhưng với họ cuộc họp báo hôm đó không hề mang tính nghĩa vụ nữa mà đã có thêm ý nghĩa của một sự sẻ chia một hồi ức chung. Và những câu hỏi từ dưới cử toạ lại mang ý nghĩa của một sự gợi mở.

Bởi trong số cử toạ ở dưới có một nhóm nhỏ phóng viên quốc tế - những người đã từng có mặt trên mảnh đất Sài Gòn này trên dưới bốn thập kỷ trước và cũng chứng kiến được nhiều điều tương tự như họ. Mặc dù không nhất thiết phải là những ngày cuối của tháng Tư năm 1975.

Đó là những cái tên như Simon Dring và Jim Pringle (Reuters) Don Kirk (Washington Star) Mike Morrow (Dispatch News Service) hay James Caccavo (Red Cross).

alt
Các phóng viên nước ngoài tại cuộc họp báo quốc tế tổ chức ngày 28.4.2010 tại TP.HCM

Tất cả những điều đó gộp lại đã khiến cho người viết từng tham dự ba cuộc họp báo tương tự trước đó kể từ năm 1995 tại Sở Ngoại vụ TP HCM cảm nhận được một sự cởi mở chưa từng có đúng hơn là sự "mở lòng". Nhất là khi các nhân chứng nói về ông Dương Văn Minh đại tướng Tổng thống VNCH - một nhân vật gây tranh cãi trong những ngày cuối cùng của tháng Tư lịch sử ấy trước khi Đại uý Thệ và các đồng đội của ông tiến vào Dinh Độc Lập.

Và qua đó người viết cũng hiểu thêm rằng tại sao cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét về ông Dương Văn Minh trong bài trả lời phỏng vấn tuần báo Quốc tế nhân 30  năm thống nhất đất nước (30.4.2005)

"Bản thân tôi cùng với anh em được giao tiếp quản Sài Gòn năm 1975 một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh như vậy tôi nghĩ không thể không nói đến vai trò của nội các Dương Văn Minh và các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ".

More...

KÝ ỨC NGƯỜI CHỈ HUY XE TĂNG 390 HÚC ĐỔ DINH ĐỘC LẬP

By Trần Chiểu

KÝ ỨC NGƯỜI CHỈ HUY XE TĂNG 390 HÚC ĐỔ DINH ĐỘC LẬP

Khi thấy xe 843 dừng lại ở cổng trái lái xe Nguyễn Văn Tập hỏi: "Thế nào anh Toàn?" ông Toàn dứt khoát "Cứ tông thẳng vào". Ngay lập tức lái xe Tập nhấn ga húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập lao vào trong sân.
> Điều trăn trở của Tướng Phạm Xuân Thệ

Trong bộ quần áo lính giản dị người chỉ huy xe tăng 390 năm xưa Vũ Đăng Toàn vẫn toát lên vẻ nhanh nhẹn minh mẫn dù mái tóc xanh đã nhuốm màu bạc trắng. Năm nào cũng thế cứ cận ngày 30/4 ông lại bắt xe từ Hải Dương lên Hà Nội đến nhà cậu em út Ngô Sỹ Nguyên để tụ họp cùng anh em đã kề vai sát cánh trong trận đánh cuối cùng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

*Ông Toàn kể lại thời khắc tiến vào dinh Độc Lập

Nheo vầng trán rộng ông chậm rãi kể lại thời khắc cách đây đã 36 năm khi đại đội ông từ miền Trung vào tham gia chiến dịch mùa xuân năm 1975. Thời điểm ấy ông thuộc Đại đội tăng 4 Tiểu đoàn tăng 1 Lữ đoàn xe tăng 203 Quân đoàn 2. Xe tăng 390 gồm có lái xe là trung sĩ Nguyễn Văn Tập; pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên (trung sĩ); phó đại đội trưởng kỹ thuật kiêm pháo thủ số 2 Lê Văn Phượng (thiếu úy lên thay pháo thủ số 2 bị thương) và ông Toàn là trung úy chính trị viên đại đội.

alt
Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc lập ngày 30/4.

Sáng 10/4/1975 đơn vị ông bắt đầu hành quân từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trên đường đi một tiểu đoàn trinh sát đã tham gia giải phóng Ninh Thuận Bình Thuận Phan Rang Phan Thiết. Đại đội của ông là lực lượng nòng cốt đi sau.

Ngày 26/4 toàn bộ lực lượng bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh. Ba ngày sau đại đội 4 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong trường sĩ quan thiết giáp của địch tạo mũi thọc sâu cho Quân đoàn 2.

Sáng 30/4 Tiểu đoàn tăng 1 do ông Ngô Văn Nhỡ làm Tiểu đoàn trưởng được giao nhiệm vụ chủ công mở đường vào Sài Gòn Đại đội 3 có nhiệm vụ cắm cờ trên dinh Độc Lập. Mũi thọc sâu bắt đầu đánh từ tổng kho Long Bình qua cầu Đồng Nai ngã ba Thủ Đức ngã ba Thủ Dầu Một đến cầu Sài Gòn. Tại đây địch chống trả rất quyết liệt. Các loạt đạn từ xe tăng M48 M41 M113 bắn sang tàu dưới sông Sài Gòn bắn lên máy bay thả bom chặn bước tiến của quân giải phóng.

alt
Bốn anh em trên chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Từ phải qua là các ông Vũ Đăng Toàn Ngô Sỹ Nguyên Lê Văn Phượng Nguyễn Văn Tập. Ảnh: Hoàng Thùy.

"Chúng tôi đã dùng pháo cao xạ súng M27 của xe tăng bắn lên nhưng máy bay địch nâng độ cao và tiếp tục thả bom. Chúng tôi bị tổn thất nặng nề xe bị cháy xe bị sa lầy mắc cạn hỏng hóc đại đội 2 và 3 mất sức chiến đấu bởi anh Nhỡ hy sinh các chiến sĩ người hy sinh người bị thương băng bó cho nhau la liệt 2 bên cầu" ông Toàn kể lại.

Ông cho biết Đại đội tăng 4 lúc đó có 7 xe ban chỉ huy đại đội gồm 3 người là trung úy Bùi Quang Thận (Đại đội trưởng) trưởng xe 843; thiếu úy Lê Văn Phượng Phó đại đội trưởng Kỹ thuật và ông là chính trị viên trưởng xe 390. Sau khi hội ý Ban chỉ huy quyết định không thể chậm trễ phải xốc lại đội hình tổ chức đại đội tiến vào bên trong.

Trước khi hành quân Đại đội 4 cùng đơn vị bạn đã dùng một số đạn pháo bắn sang bên kia để uy hiếp tinh thần và tiêu diệt địch. Bắn mấy loạt pháo thì địch tháo chạy quân giải phóng tiến lên. Xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng dẫn đầu đến xe 390 rồi xe anh Thận lần lượt đi. Đến ngã tư Hàng Xanh xe 390 bắn pháo tiêu diệt 2 xe thiết giáp N113 của địch sau đó rẽ trái tiến về hướng dinh Độc Lập.

Đến cầu Thị Nghè thì xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng bị địch bắn ông và các chiến sĩ bị thương một lính bộ binh hy sinh. Nhờ nhân dân đưa đồng đội đến bệnh viện xe 390 vượt lên dẫn đầu đội hình gấp rút tiến về chiếm dinh Độc Lập. Khi đến gần dinh thì xe ông đi chậm lại xe 843 vượt lên. Đến cổng trái xe 843 lại dừng lại tắt máy.

"Thấy vậy lái xe Tập hỏi tôi "Thế nào anh Toàn?". Tôi ra lệnh "Cứ tông thẳng vào". Ngay lập tức lái xe Tập nhấn ga vọt lên húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập lao vào trong sân đến trước tiền sảnh thì dừng lại" ông Toàn hồi tưởng.

Bước ra khỏi xe ông Toàn thấy Đại đội trưởng Thận đã ôm cờ nên vơ thêm một khẩu AK chạy theo ông Thận hỗ trợ và sẵn sàng chiến đấu. Khi hai ông đến đầu nhà thì có người đứng chặn và giới thiệu "Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh phụ tá của Tổng thống Dương Văn Minh. Tổng thống mời các ông lên làm việc".

"Có thêm người ra chỉ đường cho anh Thận lên nóc dinh cắm cờ tôi theo Nguyễn Hữu Hạnh vào bên trong. Nội các của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ có hơn 50 người ông Hạnh dồn hết vào phòng khánh tiết và sang phòng phía sau mời Dương Văn Minh lên" ông Toàn kể.

Lúc này Ngô Sĩ Nguyên cũng lên tới nơi sau khi tham gia dồn nội các của Dương Văn Minh vào một chỗ ông đứng gác ở cửa. Nguyễn Văn Tập ở lại giữ xe tăng còn Lê Văn Phượng thì ngồi trong xe giữ khẩu 12 ly 7 chĩa lên phía lá cờ trên nóc dinh để yểm hộ cho Bùi Quang Thận cắm cờ.

alt
Ông Vũ Đăng Toàn sau khi xuất ngũ đã trở về làm mọi nghề để chèo chống gia đình. Ảnh: Hoàng Thùy.

Sau khi có chỉ huy đến nói chuyện với Dương Văn Minh và đưa ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng ông Toàn cùng đồng đội ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ dinh. Khoảng một tiếng sau Đại đội 4 của ông nhận lệnh ra cảng Bạch Đằng bảo vệ cảng bảo vệ kho hàng của chính quyền Sài Gòn. Ở đó chừng 4-5 hôm đại đội rút về tổng kho Long Bình sửa chữa xe lau chùi súng pháo bổ sung đạn dược xăng dầu... sẵn sàng chiến đấu nếu có tổ chức nổi dậy.

Sau chiến thắng vang dội đó mỗi lữ đoàn lại cử một bộ phận hành quân giải phóng Tây Nguyên. Tháng 12/1978 lữ đoàn xe tăng và quân đoàn 2 được điều sang Campuchia tham gia giải phóng nước bạn.

Đất nước hoàn toàn độc lập ông Toàn lại về Hà Bắc xây dựng củng cố đơn vị. Năm 1981 lữ đoàn 203 cử cán bộ thành lập trường 900 ở Sơn Tây. Làm việc được vài năm do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông Toàn được đơn vị cho về nghỉ hưu với quân hàm đại úy.

"Lúc đó bà xã bị ốm 2 con nhỏ nên khó khăn chồng chất. Hạ ba lô xuống tôi nghĩ cách làm kinh tế để chèo chống gia đình. Tôi đi học nghề tráng bánh đa thái phở thái mì rồi chăn nuôi gà vịt. Cuối cùng cũng giải quyết được lương thực cơ bản cho gia đình và có điều kiện đưa vợ đi chữa bệnh" vị chỉ huy năm xưa bùi ngùi. Hiện ba con của ông Toàn đều đã lập gia đình.

Ông Toàn cho biết sau giải phóng 4 anh em trên chiếc xe tăng 390 mỗi người một nơi mãi đến năm 1995 mới có cơ hội gặp lại. Từ đó trở đi năm nào cũng vài lần 4 cựu chiến binh lại lặn lội đường xa tìm đến thăm nhau. Các ông Tập Phượng Nguyên sau khi rời quân ngũ cũng có cuộc sống khó khăn và hiện đều có con theo nghiệp bố.

Bốn chiến sĩ xe tăng năm xưa cho biết niềm hạnh phúc nhất của các ông là được xả thân vì độc lập tự do của dân tộc và được cống hiến sức lực xây dựng đất nước.

(Nguồn vnexpress)

More...

CHIẾN THẮNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

By Trần Chiểu

CHIẾN THẮNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
 
Tính từ lúc đại tướng Dương Văn Minh lên nhậm chức (28/4/1975) cho đến khi đầu hàng (30/4/1975) chưa đầy hai ngày. Dù điều quyết định là áp lực của quân giải phóng lúc bấy giờ vừa mạnh vừa khẩn cấp nhưng ở đây không thể không tính đến sự tác động của nhiều nhân tố hình thành sau một quá trình vận động lâu dài trong đó nổi lên tinh thần dân tộc đều có ít nhiều trong mỗi con người Việt Nam.

alt
Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài Phát thanh Sài Gòn
Việc đại tướng Dương Văn Minh nhận chấp chính vào thời điểm mà sự cáo chung của chế độ Sài Gòn chỉ còn tính theo ngày giờ là kết quả tác động từ nhóm Dương Văn Minh có phía cách mạng có tình nghĩa của người em trung tá Dương Thanh Nhựt và của chính Dương Văn Minh đã nhận thức được tình thế vừa khẩn cấp vừa là cơ hội để chấm dứt chiến tranh. Pháp và Mỹ đều tưởng đưa Dương Văn Minh ra làm tổng thống thì có thể lợi dụng theo ý đồ khác nhau của mỗi bên. Tuy nhiên Mỹ đã nhận một kết quả trái ngược.


Vấn đề còn lại là chấm dứt như thế nào. Lúc bấy giờ bên cạnh phương án “liều mạng” như Nguyễn Cao Kỳ những người trong chính quyền Sài Gòn vẫn còn cơ hội “bỏ chạy” để tránh trước mọi hậu quả về cá nhân chưa biết sẽ ra sao. Trụ lại để "bàn giao" đó là phương án mà Dương Văn Minh đã chọn để mọi việc sớm kết thúc tránh được đổ nát và thêm đổ máu.

Từ "bàn giao" được dùng để đối phó với tình hình nội bộ chính quyền Sài Gòn có tính đến toan tính của Pháp và Mỹ còn thực chất của vấn đề là chấm dứt chiến tranh theo điều kiện của bên Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa có gọi là “đầu hàng” thì cũng sẵn sàng chấp nhận vì lợi ích của dân tộc thoát khỏi phụ thuộc nước ngoài hết Pháp đến Mỹ. Thật ra “bàn giao” và “đầu hàng” đều dẫn đến một kết cục chính quyền về tay nhân dân như tiếp theo Sài Gòn là hàng loạt các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Và Dương Văn Minh đã chấp nhận chuyển từ “bàn giao” sang “đầu hàng” trước yêu cầu của bên cách mạng với niềm tin Tổ quốc độc lập thống nhất hòa bình đoàn kết hòa hợp hòa giải.

Ngày 2/5/1975 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam công bố quyết định trả tự do cho nội các Dương Văn Minh.

Tướng Trần Văn Trà chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định trực tiếp gặp tổng thống Dương Văn Minh phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền thủ tướng Vũ Văn Mẫu vừa thông báo quyết định vừa truyền đạt chính sách của cách mạng:


"Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định trả tự do cho các ông về với gia đình. Giờ đây miền Nam Việt Nam đã được hoàn toàn giải phóng nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai đã toàn thắng...

Bây giờ đất nước Việt Nam đã độc lập và thống nhất không phải là lúc nói chuyện người thắng kẻ thua. Đối với chúng ta không có kẻ thua người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ...

Mỗi người Việt Nam lúc này hãy thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đem hết sức lực và trí tuệ của mình để góp phần xây dựng đất nước sau 30 năm chiến tranh tàn phá...".

Tướng Dương Văn Minh bày tỏ lòng biết ơn đối với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và nói:

"... Tôi vô cùng cảm kích và thật sự hân hoan vì đến 60 tuổi tôi mới được trở thành công dân của nước độc lập tự do... Tôi nhận chức tổng thống khi biết rõ ý đồ của Mỹ đã bỏ rơi miền Nam Việt Nam và họ muốn dùng tôi vào thời điểm này để làm gì.

Xin hứa với ngài và cách mạng là công dân của nước Việt Nam độc lập tôi sẽ góp công sức của mình vào việc xây dựng đất nước...".


Cuộc gặp kết thúc Chủ tịch Ủy ban Quân quản Trần Văn Trà một lần nữa nhắc lại: Nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập và thống nhất mỗi người Việt Nam lúc này phải cùng nhau hợp lực xây dựng đất nước...

Gần 28 năm sau chiến tranh Trung ương Đảng đã tiến một bước tiếp cận để đánh giá hiện tượng Dương Văn Minh:

"...Tuyên bố của Dương Văn Minh và nhật lệnh của Nguyễn Hữu Hạnh cũng đã có tác dụng nhất định làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân ngụy vào những giờ chót của chiến tranh tạo thuận lợi để đại quân ta tiến vào Sài Gòn. Thúc đẩy Dương Văn Minh ngừng bắn thức thời đó là một thành công của công tác binh địch vận đã chọn đúng đối tượng để tác động vào đúng thời điểm. Đó là một đóng góp quan trọng của mũi binh địch vận trong thời điểm kết thúc chiến tranh".

Việc tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ra tuyên bố chiều 29-4-1975 chấp nhận các điều kiện do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt ra trong tuyên bố ngày 26-4-1975 để chấm dứt chiến tranh trên thực tế là "chấp nhận đầu hàng không điều kiện" được những người cùng chí hướng trong lực lượng thứ ba hết lòng ủng hộ và hợp lòng dân. Hành động đó đã góp phần vô hiệu hóa lực lượng quân Sài Gòn tránh được đổ nát gây thêm tang tóc vào giờ phút quyết định. Đó là thành quả của quá trình vận động từ nhiều phía trước hết và chủ yếu do sức mạnh của chính nghĩa cách mạng truyền thống đoàn kết yêu nước trong "con Lạc cháu Hồng" ở những mức độ khác nhau đã thức thời trỗi dậy.

...Như lời thượng tướng Trần Văn Trà tuyên bố vào ngày 2-5-1975 tại dinh Độc Lập: "Đối với chúng ta không có kẻ thua người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ".

Trích cuốn Lịch sử Nam bộ kháng chiến. Tít bài do tòa soạn đặt.

Nguồn VNN

 

More...

CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH THỨ NHẤT

By Trần Chiểu

 

CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH THỨ NHẤT 

 

Lê Hoàng

08:15 PM - Thứ bảy 23/04/2011

 

 

alt

 

Ngày xửa ngày xưa có một ông vua. Vua trị vì một đất nước bằng cách ngồi trong cung điện. Đến mức khi vua đang ngắm tranh đọc thơ hay đo chiều rộng các gian phòng có người hỏi:

- Thánh thượng đang làm gì đấy?

Quần thần liền trả lời:
- Đang vạch ra kế hoạch cai trị.

Lâu lâu để nắm tình hình vua vời quan Tể tướng vô:
- Thiên hạ ra sao rồi?

Tể tướng trình bày:
- Muôn tâu khá hơn trước ạ.

Vua yên tâm nghĩ mọi thứ đều tốt.

Một hôm vua ra ngoài kinh thành chơi. Cưỡi ngựa xem... dân chúng. Cờ xí rợp trời đèn hoa rực rỡ. Ngài hài lòng lắm. Thấy một gã ăn mặc rất đẹp vua cho gọi lại hỏi:

- Nhà ngươi là gì?

Gã nọ khúm núm:
- Tâu Bệ hạ thần là kẻ lái buôn.

Vua gật gù mặc dù không hiểu buôn thực chất là thế nào.

Thấy một kẻ đeo nhiều vàng bạc vua hỏi tiếp:
- Nhà ngươi là gì?

Kẻ đó vui vẻ:
- Tâu Thánh thượng là kẻ kiểm soát bọn buôn.

Vua mỉm cười mừng cho xã tắc thịnh vượng người nọ biết nâng đỡ người kia.

Bỗng thấy một tên quần áo rách rưới đầu tóc bơ phờ lấp ló ở xa. Vua truyền cho đòi. Nhìn kỹ thấy thân thể gầy gò lộ ra mười cái xương sườn. Vua thắc mắc:
- Nhà ngươi là gì?

Người đó buồn rầu:
- Muôn tâu là dân chúng.

- Nhà ngươi sống ra sao?

- Muôn tâu con sống khá hơn "Trước".

Vua nghe vậy thất kinh:
- Thế khá hơn "Trước" là khá ra sao?

- Dạ là chỉ nhìn thấy chín xương sườn thôi tâu Bệ hạ.

Vua quay lại phía quan Tể tướng:
- Thiên hạ thế này cả ư?

Tể tướng thưa:
- Dạ thế này thế khác chẳng qua chỉ là một khái niệm. Cái chính tuy họ đói nhưng họ trong sáng lành mạnh ít phạm tội.

Vua phân vân:
- Tội là sao?

Tể tướng giảng giải:
- Là mắc vào những điều như trộm cắp gian tham cướp kho phá phú.

- Tội có đáng sợ không?
- Muôn tâu có! Nhưng Bệ hạ không nên sợ vì cung vua có tường cao hào sâu then to khóa lớn cho nên những tội ấy dân chỉ phạm với nhau thôi. Cái đáng lo là tội nói xấu Bệ hạ khó canh phòng chỗ nào được.

Vua buồn bực:
- Mình chịu ư?

Tể tướng đắc chí:
- Đâu có chịu. Tội trạng nào hình phạt ấy. Tội độc đáo sự trừng trị cũng độc đáo. Kẻ nói xấu vốn sợ nhất không còn ai nghe mình nói. Cho nên với kẻ phạm điều này ta không thèm chém đầu nó mà chém kẻ nào tiếp xúc với nó.

Vua nghi ngờ:
- Như thế công hiệu chứ khanh?

- Công hiệu lắm. Hắn sẽ sống với đồng loại mà như chết rồi. Không nói không cười không ăn không ở được với ai cả.

Vua gật đầu về cung truyền quan Tể tướng làm ngay thành văn bản đóng triện. Để cẩn thận vua tự tay đề thêm:

"Luật này áp dụng từ ngày hôm nay sẽ không có bất cứ sự sửa đổi nào cho tới vĩnh viễn".
Ký tên: VUA.

alt

Đến bữa quân lính giải tới một người:
- Tâu Bệ hạ tên này phạm tội với Bệ hạ.

Vua nổi giận:
- Nhà ngươi nói xấu gì ta?

Người ấy hiên ngang:
- Thần không nói xấu Bệ hạ mà nói xấu kẻ dưới quyền. Nhưng chúng cứ mang danh Bệ hạ ra mà bắt.


Vua gắt:
- Dưới quyền ta thì cũng là ta phần nào.

Người ấy được thả cho đi nhưng có một toán lính theo sát. Hễ ai chào hỏi an ủi hay khuyên bảo điều gì đều bị xử chém.


Tội nhân cô đơn lang thang giữa dòng đời như trên sa mạc. Hắn cả sợ muốn gặp vua xin được chết cũng không xong. Bởi tới vua phải qua bao nhiêu nấc mà nấc nào lắng nghe hắn nghĩa là cũng tiếp xúc với hắn phải bị trừng trị liền.

Nhưng đến một ngày kia lại có một tên nữa được giải tới. Vua hỏi:
- Ngươi nói xấu gì về những việc ta làm?
- Muôn tâu thần chỉ nói xấu về những thứ Bệ hạ không làm mà thôi.

Vua cười khẩy:
- Cũng là tội.

Rồi xếp tên đó cùng loại với tên trước.

Nhưng gay quá luật quy định không ai được tiếp xúc với chúng nhưng chẳng hề cấm chúng tiếp xúc với nhau. Hai tên tội phạm trở nên có bầu có bạn và tha hồ nói xấu vua.

Kinh nghiệm ấy được lan truyền khắp vương quốc. Thiên hạ bất bình về vua không nói một mình nữa mà rủ cả nhà cả họ thậm chí cả xóm cả làng cùng nói.

Số ấy ngày càng trở nên đông đảo. Đến nỗi nếu không tiếp xúc với chúng sẽ chẳng còn tiếp xúc được với ai. Từ kẻ thổi xôi nấu cháo cho tới người chạm bạc đúc vàng cũng phải nói xấu nhà vua nếu muốn thiên hạ chấp nhận.

Tình huống trở nên nan giải tới lúc cả vương quốc phạm tội còn trơ lại bọn quần thần. Chúng cũng đành quay sang nói xấu vua hy vọng còn có người cho ăn và phục vụ.

Vua và quan Tể tướng thất thểu bơ vơ. Tới đâu mọi người cũng xô nhau chạy tới đấy không chào hỏi bẩm thưa gì cả. Rồi quan Tể tướng cũng phản bội. Ông ta hét vang giữa chợ:
- Bệ hạ xấu lắm!

Vua mắng:
- Nhà ngươi còn xấu hơn. Nhà ngươi đã từng lợi dụng cái xấu của ta mà tồn tại.

Tể tướng hòa vào đám đông. Vua quát theo:
- Mi tưởng thoát được à? Ta sẽ đổi mới - tự nói xấu ta. Thế là ta cai trị như cũ!

Nguồn Chungta.com

More...

THẾ THÌ NHÀ BÁO LÀ ÔNG TRỜI

By Trần Chiểu

 

THẾ THÌ NHÀ BÁO LÀ ÔNG TRỜI

 

(Ngô Tất Tố)       

 

  04:21 PM - Thứ tư 27/04/2011    

alt

  

Ngô Tất Tố (1894 - 1954) là một nhà văn nhà báo nhà Nho học và nghiên cứu có ảnh hưởng ở Việt Nam giai đoạn trước 1954. Ngoài tác phẩm văn học Ngô Tất Tố viết nhiều thể loại báo chí trong đó tiểu phẩm và phóng sự là hai thể loại đã giúp ông thành danh. ông còn phụ trách nhiều chuyên mục của nhiều tờ báo hàng ngày và hàng tuần. Nhà văn nhà báo kỳ cựu Vũ Bằng trong "Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp” (Nhà xuất bản Hội nhà văn Hà Nội 2004) từng khẳng định "Ngô Tất Tố là một huấn luyện viên của tôi trong nghề báo".

Di sản báo chí của Ngô Tất Tố trở thành những tư liệu phong phú chi tiết phản ánh toàn diện và trung thực xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một tiểu phẩm báo chí đặc sắc của Ngô Tất Tố viết trước năm 1945.

  

Thế thì nhà báo là ông trời

 

 

Các báo Trung Bắc chưa được có hân hạnh ấy. Đây là sự vinh dự của các bạn đồng nghiệp trong Nam! Nhưng không phải là chuyện tự do báo chí. Nó là dây dưa của nạn cướp lúa. Trong một bài trước tôi đã nói qua nạn ấy độ nọ đã làm cho nhiều nơi ở miền Hậu Giang hầu như lộn xộn mất trật tự. Cứ lời ông Nguyễn Văn Sâm đã nói trong báo Tự do thì đầu đuôi trong mấy hôm trời hai tỉnh Bạc Liêu Rạch Giá xảy ra mười đám cướp lúa cả thảy. Nói là cướp chẳng qua tôi muốn hà tiện cho cái ngòi bút. Kỳ thực bấy nhiêu đám đó đều chưa đủ điều kiện được gọi là những vụ cướp. Bởi vì bao nhiêu ngàn người dự các vụ ấy đều không có một tấc khí giới. Hơn nữa khi đến những nhà chủ điền nhiều người còn trao cho họ những bức văn tự vay nợ có ký tên tuổi rõ ràng. Đáng lẽ phải gọi là vay. Nhưng vì trong khi hỏi vay người ta không đợi chủ nợ ưng ý cứ kéo ùa vào mà xúc lấy lúa vay đâu có lối vay thế! Thà bảo là cướp còn có nghĩa hơn. Dù vay dù cướp cũng vậy sự đặt tên ấy không quan hệ gì. Cái quan hệ là nguyên nhân nạn ấy ở đâu mà ra? Quan thống đốc Nam Kỳ bảo là có kẻ xúi giục. ông Nguyễn Văn Sâm của báo Tự do bảo tại cái máy chính trị vụng về không biết kiếm công tìm việc cho dân làm ăn trong khi túng thiếu. Bạn đồng nghiệp Lục tỉnh tân văn chừng muốn được lòng mấy ông xét tá đổ tội luôn cho đạo nghị định cấm việc cho vay nặng lãi. Còn tôi? Lúc đầu tôi vẫn tưởng rằng: Nạn đó một phần là tại mấy ông chủ ruộng. Giả sử ngày thường các ông ấy không bòn rút bọn kia một cách thái thậm thì dù có gặp một năm mất mùa may ra họ cũng không đến nỗi đói. Hay là giả sử trong lúc họ trót đói rồi các ông ấy chịu bố thí bớt cái thừa thãi của mình để cứu những bộ dạ dày trống rỗng của họ thì đâu đến nỗi họ phải rủ nhau đi cướp? Nhưng không thế! Những năm được mùa người ta đã nạo xương họ hút tủy họ chỉ để họ đủ sống một đời ngắn ngủi rồi khi đói khổ người ta khư khư khóa chặt "lẫm lúa" không chịu vung ra một hạt.

Nào ai cãi lại câu đó để tôi xin mời hai ông Hứa Quang Chiểu và Trương Quang Thành làm chứng. Bằng một thứ giấy bạc đặc biệt ông Chiểu đã cho tá điền vay nợ với kiểu "một vốn tám chín mười lời". Và trước cái cảnh nheo nhóc của hàng nghìn dân đói ông Thành vẫn chất lẫm một vạn ba nghìn giạ lúa để cho mọt ăn. Những chuyện ấy trong tờ báo này đều có nói đến.

Thế là người ta chế tạo ra lũ dân đói để bắt họ phải đến nhà mình mà cướp chứ gì? ấy là khi trước thì tôi nghĩ vậy. Song sợ mất lòng mấy ông điền chủ cho nên hôm nọ tôi phải kết án cho con ma đói. Nhưng xét cho kỹ buộc tội nó oan nó chính nó cũng là khổ chủ không phải thủ phạm. Vì thế tôi đương muốn trút tội lỗi vào đầu ông trời. Bởi tại ông ấy gây ra nạn lụt nạn "tim" lấy hết lúa gạo của lũ dân cày cho nên mới đẻ ra lũ ma đói chuyên xui đàn bà con nít kéo đi cướp lúa. Quả báo! Tôi mới nghĩ vậy mà chưa kịp nói thì như muốn trả thù cho trời mấy ông điền chủ trong Nam đã quay trở lại mà đổ tội luôn cho các bạn đồng nghiệp của tôi trong ấy. "Cái nạn dân đói cướp lúa chỉ tại các báo quốc âm gây ra" khi quan thống đốc xuống miền Hậu Giang các ông ấy nói ở trước mặt ngài như thế và các ông ấy còn yêu cầu chính phủ khôi phục lại việc kiểm duyệt báo chí là khác. Cố nhiên các báo trong ấy không có báo nào xui dân đi cướp lúa cũng không báo nào xui dân "đói đi". Thế thì cớ sao lại bị người ta gắp lửa mà bỏ bàn tay? Hay là các bạn đồng nghiệp trong ấy đã có bí thuật gây ra nạn lụt nạn "tim"? Nếu thế thì các báo quốc âm cũng có uy quyền thiêng liêng như ông trời rồi còn gì! Nhưng không nên trách mấy ông chủ ruộng chỉ trách các báo trong ấy. Làm sao các bạn đã lĩnh cái trách nhiệm hướng đạo quốc dân mà còn để cho khu vực của mình vẫn có những ông điền chủ ngây thơ đến vậy? Tôi muốn yêu cầu các bạn từ đây trở đi mỗi bạn nên mở thêm một mục "điền chủ giáo dục" dành riêng cho mấy ông ấy.

Nguồn Chúngta.com

 

 

More...

BỘI TRÂN THIẾU NỮ VÀ HOA

By Trần Chiểu

BỘI TRÂN THIẾU NỮ VÀ HOA

NGUYỄN TRỌNG TẠO

Từ niềm đam mê hội hoạ ấy Bội Trân đã vẽ. Những người thầy đầu tiên của chị là hoạ sĩ Nguyễn Trung Trương Bé hay Trịnh Công Sơn. Những người thầy nổi tiếng ấy đã cùng Bội Trân vẽ tranh tại tư gia của chị hoặc bên những đồi thông vi vút bên hồ Thủy Tiên. Chị vẽ họ và họ vẽ chị. Vẽ người và vẽ cảnh. Vẽ sơn dầu và vẽ sơn mài. Có lẽ vì thế mà đôi bức tranh thuở ban đầu của Bội Trân phảng phất bút pháp Nguyễn Trung? Nhưng xem kỹ đã thấy những dấu hiệu nữ tính nổi trội trong tranh của chị. Và một điều lạ nữa là không hiểu vì sao những bức tranh của chị lại lôi dắt người xem trở về với dáng vẻ u hoài và kiêu sa của xứ Huế cố đô.

(Trích- Nguồn Nguyễn Trọng Tạo)

alt

 


 

More...

LÀM NGƯỜI KHÓ HƠN LÀM QUAN

By Trần Chiểu

 

LÀM NGƯỜI KHÓ HƠN LÀM QUAN

 

Quang Dương
Tuần Việt Nam 

Quan trọng nhất cha mẹ người lớn phải làm gương. Cha mẹ người lớn nói hay mà làm dở nói tốt mà làm xấu… thì con cái dù có được hưởng thụ nhờ cha mẹ “làm quan” nhưng lớn lên nó sẽ khó làm người cho ra con người.

Lâu nay công luận nhức nhối bởi các tệ lậu về đỏ đen nơi sòng bạc thuốc lắc ở vũ trường đua xe trên đường phố đánh nhau tại quán nhậu đâm nhau trong trường lớp…Các kết quả tra cứu của ngành công an khi truy xuất nguồn cội của các quý tử nói trên đều cho thấy đa phần trong họ là những tay “anh chị” và là con em của nhiều gia đình khá giả.

“Văn hóa cậy thế”

Giá trị và danh vọng của những gia đình đó “được” chính những người con này đem đánh đổi bằng sự đua đòi xả láng bằng lối sinh hoạt trác táng bằng việc ném tiền qua cửa sổ và nhiều khi ném cả mạng sống lên xa lộ để mặc cho tử thần phán xét.

Trong khi các bậc song thân của họ say sưa với “văn hóa” làm giàu và “văn hóa” quyền lực thì họ lại mê mẩn với thứ “văn hóa dựa hơi” “văn hóa cậy thế” hòa quyện trong những thứ “văn hóa ăn chơi bạt mạng” để chứng tỏ đẳng cấp “ta đây” trước thiên hạ và bạn bè.

Họ xuất thân từ những gia đình có trình độ văn hóa thậm chí trình độ cao. Đúng vậy vì bố mẹ của họ là những vị chức sắc. Nhưng khi làm những điều đó chính các quý tử ấy những cậu ấm cô chiêu ấy đã gây tổn hại cho danh gia vọng tộc cho văn hóa gia đình.

Điều trớ trêu không phải vị song thân nào cũng “ngộ” ra điều đó cho tới khi con mình gây họa cho xã hội cho chính gia đình thậm chí đứng trước vành móng ngựa.

Cũng không phải các vị đó mù quáng mà không nhận ra. Vấn đề là có một khoảng cách giữa việc nhận ra và việc chú tâm giáo dục con cái sao cho đúng phép. Khoảng cách đó nói lên văn hóa dạy dỗ.

Nhiều người nhầm tưởng rằng hai thứ này- văn hóa gia đình và văn hóa dạy dỗ là một đồng nhất. Nhưng thực tế không hẳn lúc nào cũng vậy. Thường là không có sự đồng nhất giữa chúng đặc biệt với những gia đình có nhiều quyền lực nhiều quyền thế và cả… nhiều quyền lợi.

Làm người khó hơn làm quan!

Phép cơ bản nhất trong văn hóa dạy dỗ là luyện nhân tính thay vì thả nổi để con cái chạy theo bản năng tầm thường. Càng dấn sâu vào bản năng hưởng thụ vung vít hay bản năng bạo lực tranh giành con người càng được “tôi luyện” chất “con” nhiều hơn chất người thú tính nhiều hơn nhân tính.

Văn hóa dạy dỗ con cái dựa trên những căn bản về tính nhân văn về văn hóa làm người của mỗi con người. Trong đó lấy văn hóa ứng xử làm cốt cách. Trong văn hóa ứng xử thì coi trọng giá trị nhân cách hơn giá trị đồng tiền và mọi thứ giá trị khác. Theo nghĩa đó thì làm người khó hơn làm quan.

Bởi ngày nay có một số không ít vị quan chức tuy có chức sắc chức trách to đấy nhưng khái niệm “nhân cách làm người” lại hơi nhỏ thậm chí không có. Vì người lao động chân chính họ không hề ăn cắp của công. Nhưng những vị đó lại mượn “cái ghế” (có khi cũng là đi mua) để làm điều xằng bậy thậm chí làm hại lợi ích quốc gia.

Làm người khó lắm. Nhưng để dạy trẻ nên người từ trong gia đình điều tối kỵ là không được dùng bạo hành. Không hình thức bạo hành nào được chấp nhận kể cả bạo hành hay ức hiếp về tinh thần mỗi khi con cái lầm lỗi. Biện pháp được sử dụng nhiều nhất là gần gũi thân thiện để cởi mở và lắng nghe để thuyết phục trên cơ sở cùng nhau bàn bạc cách giải tỏa những bế tắc của con cái (nếu có).

Ngay cả biện pháp thuyết phục thì tránh giảng giải một chiều mà cốt để nghe con cái bày tỏ đối thoại trên nền tảng đó mà phân tích điều hơn lẽ thiệt. Mặt khác để có sức thuyết phục không gì bằng tấm gương chính diện của mẹ cha của người lớn.

Kèm theo thuyết phục là sự khích lệ động viên được coi trọng hơn biện pháp khiển trách kỷ luật. Lấy cái tốt của con làm điểm tựa để chế ngự và đẩy lùi cái xấu của nó.

Có người hỏi khi con mắc lỗi có nên dùng biện pháp chế tài và cấm vận ? Bác sĩ Benjamin Spock (chuyên gia hàng đầu của nước Mỹ về tư vấn giáo dục gia đình và văn hóa dạy dỗ) có nói đại ý : Đó chỉ là giải pháp tình thế không nên lạm dụng. Khi nó lầm lỗi có thể cắt chi viện hoặc cấm giao lưu nhưng hãy mở cho nó một lối thoát. Đó là lối thoát lập công. Chỉ nên chế tài và cấm vận khi nó chưa lập công.

Đó là sự dẫn dắt con khi vào đời. “Vào đời”- theo nghĩa tổng quát nhất mà BS. Benjamin Spock khái quát là tránh gây tội lỗi và nếu lỡ bị lầm lỗi thì phải tìm cách lấy công chuộc tội.

Nhưng quan trọng nhất cha mẹ người lớn phải làm gương. Cha mẹ người lớn nói hay mà làm dở nói tốt mà làm xấu thuyết giảng “đạo đức” về lẽ sống thì hay mà sống chỉ vì cá nhân mình vì lợi lộc của mình thì con cái dù có được hưởng thụ nhờ cha mẹ “làm quan” nhưng lớn lên nó sẽ khó làm người cho ra con người.

Sống để làm người thật khó. Ai đó đã tổng kết rất hay: Hành vi và con người bạn có thể lừa được một người lừa được hai người lừa được một tập thể nhưng không lừa được cuộc đời.

More...

THÓI HƯ TẬT XẤU CỦA NGƯỜI VIỆT: QUAN LỚN NHƯ HẠ LƯU ẢO TƯỞNG THOÁI HOÁ TRÌ TRỆ VÀ BẤT LỰC

By Trần Chiểu

Trong con mắt các nhà tri thức nửa đầu thế kỷ

 Thói hư tật xấu của người Việt : Quan lớn như hạ lưu Ảo tưởng thoái hóa trì trệ và bất lực

Vương Trí Nhàn

   
08:26 PM - Thứ sáu 22/04/2011

Quan cao chức lớn cũng sống như kẻ hạ lưu
 

(Tản Đà Đông Pháp thời báo năm 1927)

Nghĩ như những người quan cao chức lớn cửa rộng nhà to mũ áo đai cân mày đay kim khánh mà gian tham xiểm nịnh bất nghĩa vô lương hút máu hút mủ của dân thứ để nuôi béo vợ con như thế có phải là hạng người hạ lưu không tưởng công chúng cũng đều công nhận. Lại nghĩ như những người tây học nho học học rộng tài cao duyệt lịch giang hồ giao du quyền quý mà quỷ quyệt giả trá bôi nhọ ra hề lấy văn học(1) gạt xã hội để mua cái hư danh phụ xã hội thân người ngoài(2) để kiếm bề tư lợi như thế có phải là hạ lưu không tưởng công chúng cũng đều công nhận.

(1) văn học ở đây tức là học vấn nói chung.

(2) người ngoài: chỉ người Pháp cũng như người Tàu là các thế lực lúc ấy đang có nhiều ảnh hưởng.

 

Từ ảo tưởng tới thoái hóa
 

(Phan Khôi Báo Thần chung năm 1929)

Mấy trăm năm nay thuyết minh đức tân dân(1) làm hại cho sĩ phu nhiều lắm nhất là trong thời đại khoa cử thịnh hành. Buổi còn đang đi học thì người nào cũng nhằm vào hai chữ tân dân đó mà ôm những hy vọng hão huyền cứ tưởng rằng mình ngày sau sẽ làm ông nọ bà kia sẽ kinh bang tế thế rồi mình sẽ thượng trí quan hạ trạch dân làm nên công nghiệp(2) ghi vào thanh sử(3) đến đời đời không ngờ thi không đậu hay đậu mà không làm ra trò chi thì trở nên thất vọng thiếu điều ngã ngửa người ra tay chân xuôi lơ và bủn rủn. Còn người khác đắc thời thi đậu ra làm quan thì lại ỉ rằng bấy lâu mình đã có cái công phu minh đức nghĩa là mình đã học giỏi rồi thì bây giờ cứ việc thôi sờ học ư sở hành chớ có lo chi. Bởi vậy nên có những ông thượng thư bộ hộ mà làm chẳng chạy bốn phép toán thượng thư bộ binh mà cả đời chẳng biết đến cái lưng con ngựa ra sao cái cò khẩu súng là gì. Mà rồi ông quan nào cũng như thượng đế cả nghĩa là toàn trí toàn năng(!).

(1) trích từ câu đầu tiên của sách Đại học có nghĩa làm sáng đức và khiến dân luôn luôn đổi mới.

(2) cũng tức là sự nghiệp.

(3) thanh sét thời cổ ở Trung Quốc dùng thẻ tre để chép sử nên lịch sử thường được gọi là thanh sử.

 

 Trì trệ và bất lực
 

(Lương Đức Thiệp Việt Nam tiến hóa sử năm 1944)

Bị ý thức hệ nho giáo bảo thủ lung lạc bị nguỵ thuyết của bọn Tống nho đưa lạc nẻo bị chế độ thi cử chi phối đẳng cấp nho sĩ Việt Nam không còn một chút hoạt lực(1) nào không còn được một tính cách cấp tiến nào nữa. Bởi vậy họ đã chống tiến hoá chống cải cách. Phụ hoạ với triều định họ đã lấy cái học bã giả(2) của Tống nho dựng một bức trường thành ngăn các trào lưu triết học khác không cho tràn tới địa hạt tri thức do họ giữ đặc quyền.

…"Thiếu độc lập về tư tưởng hoàn toàn phục tùng cổ nhân Trung Hoa về cả mặt tình cảm quá câu nệ về hình thức thơ Tàu đẳng cấp Nho sĩ Vệt Nam chỉ sản xuất ra được những lối thơ nghèo nàn. Nhiều tập thơ mài giũa công phu nhưng không chút sinh khí.

Qua ngay hình thức của thơ ta cũng thấy rõ tinh thần bảo thủ của đẳng cấp Nho sĩ và sự bất lực của đẳng cấp này trong mọi công cuộc sáng tạo xã hội có tính chất cấp tiến.

(1) sức sống.

(2) thường nói bã chả với nghĩa cái phần dư thừa sau khi lấy hết tính chất và nát ngấu nhão nhoẹt.



 


 


More...